Các chỉ số siêu âm doppler mô tim thai trong ba tháng cuối của thai kỳ bình thường

Đặt vấn đề: Siêu âm Doppler mô tim thai có khả năng đánh giá rối loạn chức năng tim thai, tuy nhiên kỹ

thuật này chưa được nghiên cứu nhiều ở người Việt Nam.

Mục tiêu: Khảo sát các chỉ số siêu âm Doppler mô tim thai ở tuổi thai từ 28 đến 41 tuần của thai kỳ

bình thường.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trên 134 thai nhi bình thường có tuổi thai từ 28 đến 41 tuần. Các

chỉ số siêu âm Doppler mô tim thai được đo tại ba vị trí thành bên thất trái, vách liên thất và thành bên thất phải.

Vận tốc đỉnh của các sóng E’, A’ và S’ của mỗi vị trí được ghi nhận.

Kết quả: Nghiên cứu xác lập được các giá trị tham chiếu của 9 chỉ số siêu âm Doppler mô tim thai bình

thường theo tuổi thai. Chúng tôi cũng ghi nhận sự gia tăng của các chỉ số này theo tuổi thai. Đồng thời, nhóm

nghiên cứu cũng xây dựng được các phương trình hồi qui cho LVE’, LVS’, RVE’, RVA’ và RVS’.

Kết luận: Các giá trị tham khảo cho các chỉ số siêu âm Doppler mô tim thai ở tuổi thai trong ba tháng cuối

của thai kỳ bình thường đã được xác lập bước đầu. Cần có nghiên cứu quy mô hơn để có thể đưa ra giá trị tham

chiếu cho người Việt Nam.

pdf 6 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Các chỉ số siêu âm doppler mô tim thai trong ba tháng cuối của thai kỳ bình thường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Các chỉ số siêu âm doppler mô tim thai trong ba tháng cuối của thai kỳ bình thường

Các chỉ số siêu âm doppler mô tim thai trong ba tháng cuối của thai kỳ bình thường
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 264 
CÁC CHỈ SỐ SIÊU ÂM DOPPLER MÔ TIM THAI 
TRONG BA THÁNG CUỐI CỦA THAI KỲ BÌNH THƯỜNG 
Bùi Thị Trúc My1, Hà Tố Nguyên2, Lê Minh Khôi3 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Siêu âm Doppler mô tim thai có khả năng đánh giá rối loạn chức năng tim thai, tuy nhiên kỹ 
thuật này chưa được nghiên cứu nhiều ở người Việt Nam. 
Mục tiêu: Khảo sát các chỉ số siêu âm Doppler mô tim thai ở tuổi thai từ 28 đến 41 tuần của thai kỳ 
bình thường. 
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trên 134 thai nhi bình thường có tuổi thai từ 28 đến 41 tuần. Các 
chỉ số siêu âm Doppler mô tim thai được đo tại ba vị trí thành bên thất trái, vách liên thất và thành bên thất phải. 
Vận tốc đỉnh của các sóng E’, A’ và S’ của mỗi vị trí được ghi nhận. 
Kết quả: Nghiên cứu xác lập được các giá trị tham chiếu của 9 chỉ số siêu âm Doppler mô tim thai bình 
thường theo tuổi thai. Chúng tôi cũng ghi nhận sự gia tăng của các chỉ số này theo tuổi thai. Đồng thời, nhóm 
nghiên cứu cũng xây dựng được các phương trình hồi qui cho LVE’, LVS’, RVE’, RVA’ và RVS’. 
Kết luận: Các giá trị tham khảo cho các chỉ số siêu âm Doppler mô tim thai ở tuổi thai trong ba tháng cuối 
của thai kỳ bình thường đã được xác lập bước đầu. Cần có nghiên cứu quy mô hơn để có thể đưa ra giá trị tham 
chiếu cho người Việt Nam. 
Từ khóa: siêu âm Doppler mô cơ tim, siêu âm tim thai, chức năng tim tim thai 
ABSTRACT 
NORMAL VALUES OF FETAL TISSUE DOPPLER-DERIVED CARDIAC FUNCTION 
IN THE THIRD TRIMESTER: A PRELIMINARY INVESTIGATION 
Bui Thi Truc My, Ha To Nguyen, Le Minh Khoi 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 264 - 269 
Background: Tissue Doppler imaging can help to assess the fetal cardiac function in normal and abnormal 
conditions. However, this technique is not widely studied in Vietnamese population. 
Objective: To initially establish the the indices of tissue Doppler imaging in fetal heart in the third trimester 
of normal pregnancy. 
Methods: We performed 134 fetal echocardiograms in normal pregnancies from 28 to 41 weeks of gestational 
age. The tissue Doppler imaging indices were measured at three diffferent locations basal left ventricular wall, 
basal interventricular septum and basal right ventricular wall. For each location, the peak velocity of the E’ wave, 
A’ wave and S’ wave were recorded in conform with current guidelines. 
Results: The study established for the first time the normal values of 9 tissue Doppler derived indices of 
cardiac function in normal fetuses in the third trimester. The value of these indices increased in concordance with 
advancing gestational age. In addition, the regression equations of LVE’, LVS’, RVE’, RVA’, and RVS’ were 
formulated. 
Conclusions: The preliminary values of fetal tissue Doppler-derived cardiac function in the third trimester 
were measured. Further large-scaled studies are warranted to definitely establish the reference range of tissue 
Doppler derived indices for Vietnamese fetal population. 
1Bệnh viện Quận Thủ Đức 2Bệnh viện Từ Dũ 3Bộ môn HSCC-CĐ, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: PGS.TS.BS. Lê Minh Khôi ĐT: 0919731386 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 265 
Keywords: fetal echocardiography, tissue Doppler imaging, fetal cardiac function 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Siêu âm Doppler mô đã trở thành một 
phương tiện chẩn đoán không xâm nhập và 
đáng tin cậy trong rối loạn chức năng tim mạch. 
Ngày nay, ứng dụng của kỹ thuật này đã được 
mở rộng sang lĩnh vực thai nhi. 
Rối loạn chức năng tim thai có thể do bệnh 
cơ tim hoặc do cơ chế thích ứng với những thay 
đổi về mặt huyết động của thai nhi. Hiện nay, 
việc đánh giá chức năng tim thai hỗ trợ chẩn 
đoán và theo dõi một số tình trạng bệnh lý của 
thai nhi như thai nhi bị chậm tăng trưởng trong 
tử cung(1), nhiễm trùng bào thai(2), thai nhi bị suy 
tim(3) hay thai phụ bị tiểu đường(4). Ngoài ra, có 
bằng chứng cho thấy bất thường quá trình tăng 
trưởng của thai nhi có liên quan đến những biến 
cố tim mạch khi trưởng thành(5). Chính vì vậy, 
việc đánh giá chức năng tim thai có thể dự đoán 
được các kết cục tim mạch chu sinh và lâu dài. 
Theo hướng dẫn của Viện Siêu âm trong Y 
học Hoa Kỳ (American Institute of Ultrasound in 
Medicine-AIUM) năm 2019, khi nghi ngờ có rối 
loạn chức năng tim thai thì cần thực hiện siêu 
âm Doppler mô tim thai(6). Siêu âm Doppler mô 
tim thai với phương pháp đo vận tốc dịch 
chuyển cơ tim có thể phát hiện sớm những biến 
đổi chức năng tâm thu và tâm trương của tim 
thai. Các chỉ số vận tốc cơ tim đo bằng siêu âm 
Doppler mô tim thai gồm 9 chỉ số là vận tốc tối 
đa của vòng van hai lá phía thành bên thất trái, 
phía vách liên thất và vòng van ba lá trong các 
giai đoạn đầu tâm trương, nhĩ co và tâm thu. 
Một số nghiên cứu ban đầu cho thấy giá trị của 
các chỉ số siêu âm Doppler mô tim thai là khác 
nhau giữa các quốc gia và các phương pháp 
đo(7,8,9,10). Vì thế, chúng tôi chọn đo các chỉ số siêu 
âm Doppler mô tim thai để bước đầu tìm hiểu 
và ứng dụng siêu âm Doppler mô tim thai trên 
dân số Việt Nam. 
Mục tiêu 
1. Khảo sát 9 chỉ số siêu âm Doppler mô tim 
thai 3 tháng cuối của thai kỳ bình thường được 
siêu âm tại Bệnh viện Quận Thủ Đức. 
2. Khảo sát sự thay đổi của 9 chỉ số này theo 
tuổi thai. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Thai nhi 3 tháng cuối được siêu âm tim tại 
khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Quận Thủ 
Đức từ ngày 01/12/2019 đến 30/06/2020. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Các thai nhi từ 28 - 41 tuần tuổi thai, đơn 
thai, sinh từ 37 tuần tuổi thai, cân nặng thai nhi 
lúc sinh ≥2.500 gram và ≤4.000 gram. 
Thai phụ tuổi từ 18 - 35 tuổi, BMI trước khi 
mang thai từ 18,5 đến 24,9 kg/m2, thai kỳ bình 
thường, đồng ý tham gia nghiên cứu, cung cấp 
đầy đủ số điện thoại hoặc địa chỉ để liên lạc. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Thai kỳ nguy cơ cao. 
Thai phụ không siêu âm thai trong 3 tháng 
đầu để xác định chính xác tuổi thai. 
Thai phụ không đồng ý tham gia nghiên cứu 
khi em bé được sinh ra. 
Thai nhi có hình ảnh Doppler mô nhiều xảo 
ảnh không đảm báo chất lượng hình ảnh để 
phân tích. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang. 
Phương pháp thực hiện 
Chọn lọc thai phụ được chẩn đoán là thai kỳ 
bình thường. 
Các thai nhi sẽ được siêu âm tim trên máy 
siêu âm GE Voluson E6. Người làm siêu âm đặt 
đầu dò quét 2D và ghi được hình ảnh 4 buồng 
của tim thai với góc nhìn từ mỏm hoặc đáy (góc 
tạo bởi trục tim thai và chùm tia siêu âm <200). 
Phóng to bằng cách sử dụng chế độ zoom có độ 
phân giải cao. Diện tích khung hình được giữ ở 
mức nhỏ nhất có thể để đạt được tốc độ khung 
hình cao. Cửa sổ đo chỉ số siêu âm Doppler mô 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 266 
(TDI) # 2 mm được đặt trên mặt phẳng nhĩ thất 
của thành cơ tim khi kết thúc kỳ tâm thu và 
được duy trì trong cơ tâm thất, không đi vào tâm 
nhĩ trong bất kỳ giai đoạn nào của chu kỳ tim. 
Tốc độ quét ngang của Doppler được điều chỉnh 
là 5 cm/s, hiển thị 4 - 6 chu kỳ tim hoàn chỉnh. 
Gain -25 dB để nhìn rõ dạng sóng vận tốc 
Doppler. Bộ lọc thấp WMF 30 - 60 Hz để tránh 
những tín hiệu có tần số cao. Đo 9 chỉ số TDI tại 
3 vị trí: thành bên thất trái, vách liên thất, thành 
bên thất phải. Mỗi vị trí đo 3 lần. Mỗi vị trí thu 
được 3 sóng: E’, A’ và S’. 
Theo dõi sau sinh bằng hồ sơ điện tử hoặc 
gọi điện thoại hỏi thăm. 
Hình 1: Cách đo TDI 
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 
Tổng hợp và quản lý số liệu trên phần mềm 
Microsoft Excel 2010. Xử lí thống kê bằng phần 
mềm SPSS 16.0. Các biến định tính được mô tả 
bằng tần số và tỉ lệ phần trăm. Các biến định 
lượng được mô tả bằng số trung bình và độ lệch 
chuẩn. Kiểm định Fisher được dùng để so sánh 
các biến định lượng giữa các nhóm. Phân tích 
hai biến sử dụng hệ số tương quan Pearson để 
tìm mối tương quan giữa các biến định lượng. 
Mô hình hồi quy tổng quát để dự đoán giá trị 
của các biến phụ thuộc dựa vào các biến độc lập. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 776/HĐĐĐ, ngày 
24/12/2019. 
KẾT QUẢ 
Có 134 thai nhi thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu. 
Mô tả chung 
Tuổi thai trung bình là 33,18 ± 3,17 (tuần), 
thấp nhất là 28 tuần, cao nhất là 39 tuần 3 ngày. 
52% thai nhi là nữ. 
Các chỉ số siêu âm Doppler mô tim thai 
9 chỉ số vận tốc cơ tim tại vòng van nhĩ thất 
đo ở ba vị trí: thành bên thất trái, vách liên thất 
và thành bên thất phải có: 
- Sóng E’ nhỏ hơn sóng A’. 
- Vận tốc cơ tim tăng dần theo thứ tự: tại 
vòng van hai lá phía vách liên thất, phía thành 
bên thất trái, tại vòng van ba lá phía thành bên 
thất phải. 
Bảng 1: Giá trị các chỉ số TDI 
Chỉ số Nam (n = 64) Nữ (n = 70) Mean ± SD (n = 134) Min – Max (n = 134) 
LV E’ (cm/s) 6,92 6,6 6,67 ± 1,1 5,62 - 8,15 
LV A’ (cm/s) 8,9 8,58 8,68 ± 1,61 8,07 - 10,25 
LV S’ (cm/s) 6,73 6,72 6,65 ± 0,87 5,97 - 7,8 
IVS E’ (cm/s) 5,95 5,52 5,77 ± 1 5,32 - 6,64 
IVS A’ (cm/s) 7,7 7,6 7,61 ± 1,14 6,86 - 8,92 
IVS S’ (cm/s) 6,08 5,65 5,76 ± 0,98 5,1 - 6,89 
RV E’ (cm/s) 7,53 7,46 7,23 ± 1,26 5,41 - 10,07 
RV A’ (cm/s) 10,87 10,86 10,53 ± 1,43 8,08 - 14,23 
RV S’ (cm/s) 7,28 7,23 7,15 ± 0,69 5,85 - 8,26 
Mối liên quan các chỉ số siêu âm Doppler mô 
tim thai với tuổi thai 
Tất cả các chỉ số TDI đều có mối tương quan 
thuận với tuổi thai. Mối tương quan yếu nhất là 
của LV A’ (r=0,268; p=0,002). Các chỉ số TDI tại 
vòng van hai lá phía vách liên thất (IVS E’, IVS 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 267 
A’ và IVS S’) có r dao động trong khoảng 0,335 
đến 0,469 (p <0,001) thể hiện mức tương quan 
trung bình. Với các chỉ số còn lại, r dao động 
trong khoảng 0,507 đến 0,861 (p <0,001) là tương 
quan mạnh. 
Bảng 2: Mối liên quan của các chỉ số TDI và tuổi thai 
Chỉ số r p Phương trình hồi qui 
LV E’ 0,62 <0,001 LVE’ = - 0,5057 + 0,2163GA 
LV A’ 0,268 0,002 
Chỉ số r p Phương trình hồi qui 
LV S’ 0,507 <0,001 LVS’ = 1,974 + 0,1408GA 
IVS E’ 0,335 <0,001 
IVS A’ 0,493 <0,001 
IVS S’ 0,469 <0,001 
RV E’ 0,861 <0,001 
RVE’ = -116,8 + 10,48GA - 
0,3017GA2 + 0,002976GA3 
RV A’ 0,798 <0,001 
RVA’ = - 534,6 + 48,55GA - 
1,443GA2 + 0,01433GA3 
RV S’ 0,857 <0,001 
RVS’ = -181,3 + 16,52GA - 
0,4850GA2 + 0,004774GA3 
Hình 2: Các chỉ số TDI theo tuổi thai 
BÀN LUẬN 
Trong vòng 6 tháng thu thập số liệu (từ 
tháng 12 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020), 
chúng tôi thu thập được 134 trường hợp đáp 
ứng với điều kiện đã đề ra để tiến hành phân 
tích số liệu. 
Số lượng thai nhi nam và nữ trong nghiên 
cứu của chúng tôi gần bằng nhau, ưu thế thuộc 
về giới nữ. Tuy nhiên, sự chênh lệch giới tính 
này là do cách lấy mẫu liên tục chứ không phản 
ánh tỷ lệ giới tính trong dân số. 
Sóng E’ phản ánh vận tốc thư giãn cơ tim khi 
vòng van di chuyển về phía đáy tim trong thời 
kỳ đổ đầy thất sớm. Sóng A’ phản ánh sự di 
chuyển vòng van về phía đáy tim trong thời kỳ 
đổ đầy thất hoạt động khi tâm nhĩ co. Ở thai nhi, 
tỷ lệ lấp đầy tâm thất ở giai đoạn nhĩ co nhiều 
hơn giai đoạn đầu tâm trương. Do đó, chúng tôi 
thu được giá trị vận tốc sóng E’ luôn nhỏ hơn 
sóng A’ tại bất kỳ vị trí nào trong nghiên cứu. 
Sóng S’ phản ánh sự co ngắn của tâm thất 
trong thì tống máu. Sóng S’ là một chỉ số quan 
trọng trong những bệnh tăng hậu tải ở thai nhi 
như thai chậm tăng trưởng trong tử cung 
(IURG), hội chứng truyền máu song thai (TTTS), 
hẹp nặng động mạch chủ. Larsen L(11) đã chứng 
minh rằng vận tốc đỉnh cơ tim tâm thu (S’) là 
một yếu tố dự báo tử vong chu sinh ở bào thai 
hạn chế tăng trưởng và đảo ngược dòng chảy 
động mạch rốn. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 268 
Trong nghiên cứu của chúng tôi trên cùng 
một thai nhi, vận tốc cơ tim tại vách liên thất là 
thấp hơn so với các thành bên, tương tự như các 
nghiên cứu trước, được giải thích là do các thành 
bên di động, còn vách liên thất thì dính với 
nhiều mô tim xung quanh. Các chỉ số vận tốc tại 
thất phải cao hơn tại thất trái, được giải thích là 
do trong bào thai tim phải hoạt động trội hơn và 
do hướng của các sợi cơ tim thất phải và trái 
được xếp theo hướng khác nhau(12). 
Các chỉ số TDI trung bình ở tam cá nguyệt 
thứ ba trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn 
nghiên cứu của Nair A(9) mặc dù cùng nghiên 
cứu trên dân số châu Á là do tuổi thai của chúng 
tôi cao hơn. Bên cạnh đó, nghiên cứu của chúng 
tôi thực hiện trên máy siêu âm GE Volusion E6 
và nghiên cứu của Nair A thực hiện trên máy 
Philips IE-33. Cruz M(13) đã cho thấy sự sai lệch 
kết quả vận tốc Doppler mô ở bào thai có thể lên 
đến 30% khi sử dụng hai máy siêu âm khác 
nhau. Do đó, tác giả đề xuất rằng nên sử dụng 
cùng một máy siêu âm để theo dõi dọc. 
Khi so sánh giá trị vận tốc các chỉ số TDI từ 
28 đến 39 tuần trong nghiên cứu của chúng tôi 
với nghiên cứu của Comas M(7) trên dân số Tây 
Ban Nha (châu Âu), chúng tôi nhận thấy các chỉ 
số TDI của chúng tôi thay đổi theo tuổi thai 
nhiều hơn nghiên cứu của Comas và cộng sự. 
Không chỉ khác biệt về đặc điểm chủng tộc, 2 
nghiên cứu cũng khác nhau về phương tiện thu 
thập số liệu: Antares Siemen của Comas và GE 
Volusion E6 của chúng tôi. 
Nghiên cứu của chúng tôi chứng minh các 
giá trị siêu âm Doppler mô tim thai trong một 
thai kỳ bình thường thay đổi theo tuổi thai. Tất 
cả các chỉ số Doppler mô cơ tim (vận tốc tâm thu 
S’, đầu tâm trương E’ và vận tốc cuối tâm trương 
A’) tăng theo tuổi thai ở cả ba vị trí (thành bên 
thất trái, thất phải và vách liên thất). Tại thành 
bên thất trái, A’ tăng theo tuổi thai với mức độ 
tương quan yếu như nghiên cứu của Comas M(7) 
và nghiên cứu trước dùng TDI màu(8). 
Vận tốc cơ tim ngày càng tăng. Sự gia tăng 
này phản ánh sự trưởng thành tim thai nhi trong 
suốt thai kỳ. Vận tốc dòng chảy phụ thuộc vào 
lưu lượng máu và có thể bị ảnh hưởng bởi 
những thay đổi của sức cản mạch và do đó 
không phản ánh rối loạn chức năng cơ tim của 
thai nhi. Doppler mô có một lợi thế so với 
Doppler đo vận tốc dòng chảy qua van khi nó đo 
lường vận tốc cơ tim chính xác hơn và ít phụ 
thuộc vào lưu lượng máu. 
Các phương trình hồi qui biểu diễn sự thay 
đổi của các chỉ số TDI theo tuổi thai trong 
nghiên cứu của chúng tôi là hàm bậc 3 ở các 
chỉ số TDI tại thành bên thất phải, bậc 1 ở 
thành bên thất trái. Do sự khác biệt về các trị 
số TDI và phương tiện thu thập số liệu nên 
phương trình hồi qui của chúng tôi có sự khác 
biệt với các nghiên cứu khác. 
KẾT LUẬN 
Qua 134 trường hợp siêu âm tim thai ở 3 
tháng cuối thai kỳ, chúng tôi thu được: 
- Trung bình 9 chỉ số siêu âm Doppler mô 
tim thai từ 28 đến 39 tuần 3 ngày tuổi thai của 
thai kỳ bình thường. 
- 9 chỉ số siêu âm Doppler mô tim thai có 
mối tương quan thuận với tuổi thai, tuổi thai 
càng lớn thì chỉ số vận tốc mô tim thai tại vòng 
van càng cao. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Comas M, Crispi F, Cruz-Martinez R, et al (2010). Usefulness of 
myocardial tissue Doppler vs conventional echocardiography in 
the evaluation of cardiac dysfunction in early-onset intrauterine 
growth restriction. American Journal of Obstetrics & Gynecology, 
203(1):451-457. 
2. Di-Naro E, Cromi A, Ghezzi F, et al (2010). Myocardial 
dysfunction in fetuses exposed to intraamniotic infection: new 
insights from tissue Doppler and strain imaging. American 
Journal of Obstetrics & Gynecology, 203(5):451-459. 
3. Aoki M, Harada K, Ogawa M, et al (2004). Quantitative 
assessment of right ventricular function using Doppler tissue 
imaging in fetuses with and without heart failure. Journal of the 
American Society of Echocardiography, 17(1):28-35. 
4. Hatém MAB, Zielinsky P, Hatem DM, et al (2008). Assessment 
of diastolic ventricular function in fetuses of diabetic mothers 
using tissue Doppler. Cardiology in the Young, 18:297-302. 
5. Barker DJ, Osmond C, Golding J, et al (1989). Growth in utero, 
blood pressure in childhood and adult life, and mortality from 
cardiovascular disease. British Medical Journal, 298(6673):564. 
6. AIUM (2019). AIUM Practice parameter for the performance of 
fetal echocardiography. J Ultrasound Med, 39(1):5-16. 
7. Comas M, Crispi F, Gomez O, et al (2011). Gestational age- and 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 269 
estimated fetal weight-adjusted reference ranges for myocardial 
tissue Doppler indices at 24-41 weeks' gestation. Ultrasound 
Obstet Gynecol, 37(1):57-64. 
8. Herling L, Johnson J, Ferm-Widlund K, et al (2019). Automated 
analysis of fetal cardiac function using color tissue Doppler 
imaging in second half of normal pregnancy. Ultrasound Obstet 
Gynecol, 53(3):348-357. 
9. Nair A, Radhakrishnan S (2017). Functional assessment of fetal 
heart: Normative data for tissue Doppler indices and other 
echocardiographic parameters for Indian population. Journal of 
The Indian Academy of Echocardiography & Cardiovascular Imaging, 
1(2):103-108. 
10. Peixoto AB, Bravo-Valenzuela NJM, Martins WP, et al (2019). 
Reference ranges for left, right and interventricular septum 
indices at 20 to 36+6 weeks of gestation derived using spectral 
myocardial tissue Doppler on Voluson ultrasound machines. 
Medical Ultrasonography, 21(3):279-287. 
11. Larsen L, Sloth E, Pedersen TF, et al (2009). Systolic myocardial 
velocity alterations in the growth-restricted fetus with 
cerebroplacental redistribution. Ultrasound Obstet Gynecol, 34:62-
67. 
12. Bijnens B, Cikes M, Sitges M, et al (2012). Myocardial motion 
and deformation: What does it tell us and how does it relate to 
function?. Fetal Diagn Ther, 32(1-2):5-16. 
13. Cruz-Lemini M, Valenzuela-Alcaraz B, Figueras F, et al (2016). 
Comparison of two different ultrasound systems for the 
evaluation of tissue Doppler velocities in fetuses. Fetal Diagn 
Ther, 40(1):35-40. 
Ngày nhận bài báo: 08/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfcac_chi_so_sieu_am_doppler_mo_tim_thai_trong_ba_thang_cuoi_c.pdf