Các biến chứng của song thai
Song thai hay đa thai dẫn tới nhiều nguy cơ cho thai. Mặc dù tỉ lệ
đa thai chỉ chiếm chưa tới 3% trong tổng số trẻ sinh ra, nhưng là một
trong những vấn đề thử thánh lớn cho nhà sản khoa trong quá trình
theo dõi thai kỳ. Ngoài những nguy cơ giống như đơn thai như sinh
non, nhẹ cân, thai chết lưu , song thai còn có nhiều nguy cơ khác mà
chỉ ra trong song thai.
Bạn đang xem tài liệu "Các biến chứng của song thai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Các biến chứng của song thai
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(02), 17 - 25, 2016 17 Tậ p 14 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 6 Nguyễn Hồng Hoa Trường Đại học Y Dược TP. HCM CÁC BIẾN CHỨNG CỦA SONG THAI Tóm tắt Song thai hay đa thai dẫn tới nhiều nguy cơ cho thai. Mặc dù tỉ lệ đa thai chỉ chiếm chưa tới 3% trong tổng số trẻ sinh ra, nhưng là một trong những vấn đề thử thánh lớn cho nhà sản khoa trong quá trình theo dõi thai kỳ. Ngoài những nguy cơ giống như đơn thai như sinh non, nhẹ cân, thai chết lưu, song thai còn có nhiều nguy cơ khác mà chỉ ra trong song thai. Abstract TWIN COMPLICATIONS There are many risks of fetal death in multiple pregnancies. Although multiple pregnancies’ comprise only 3% of all births, they are one of the most challenges for obstetricians. Compared to the single, the other characteristic risks of fetal dying are greater in twin or multiple pregnancies. Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Hồng Hoa, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 10/03/2016 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 20/04/2016 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 25/04/2016 1. Song thai một buồng ối Song thai một ối chiếm khoảng một phần ba trong tổng số song thai đồng hợp tử, và dẫn tới mất thai với tỉ lệ rất cao, từ 50- 75% [1]. Song thai 2 ối có thể trở thành 1 buồng ối, và nếu sự phân chia buồng ối mất đi thì cũng sẽ có tất cả các biến chứng về bệnh suất, và tử suất giống như thế. Nghiên cứu của Allen và cs [2], theo dõi kết quả thai kỳ của các trường hợp song thai sống một buồng ối với tuổi thai từ 20 tuần thì có khoảng 10% nguy cơ chết trong tử cung. Các dây rốn quấn vào nhau, một biến chứng thường gặp chiếm khoảng ½ trường hợp. Một khi được chẩn đoán, xử lý song thai một buồng ối là một vấn đề vì không thể tiên lượng được khả năng thai chết do dây rốn bắt chéo và do thiếu các biện pháp theo dõi hiệu quả. Một số dữ liệu cho thấy, tình trạng bắt chéo dây rốn thường 2. Song thai dính Song thai dính rất hiếm gặp, với suất độ 1/50.000- 1/100.000. Ở bệnh viện Kandang Kerbau tại Singapore, Tan và cs [5] đã xác định 7 trường hợp song thai dính trong số 400.000 ca sanh (1 trên 60.000). Trong song thai dính, các phần cơ thể có thể dính là: phía trước (dính ngực), phía sau (dính mông), đầu ( dính đầu) và đuôi ( dính chậu hông). Khoảng 70% các trường hợp là dính ngực và bụng; còn lại là dính cùng, chậu và sọ. Về bệnh học thai nhi, Potter và Craig [6] đã phân chia các dạng dính của song thai như sau : (1) Diplopagus : là các trường hợp song thai dính mà các phần của 2 thai cân xứng với nhau, gần như bằng nhau và đối xứng với nhau qua một mặt phẳng giữa như dạng dính đầu (cephalopagus). (2) Heteropagus : là các trường hợp song thai dính mà các phần của 2 thai không cân xứng, một thai có thể phát triển và trở nên rất bình thường trong khi phần còn lại biến dạng. Chẩn đoán song thai dính dựa chủ yếu vào siêu âm với các dấu gợi ý như sau [7]: (1) không có màng ối ngăn cách (2) không thể tách riêng từng phần của hai thai (3) phát hiện các dị dạng (4) có hơn 3 mạch máu trong cuống rốn (5) thấy được 2 đầu thai nhi trên cùng một mặt cắt (6) sự gập góc ra sau của đốt sống cổ và đốt sống ngực NGUYỄN HỒNG HOA TỔ N G Q U A N 18 Tậ p 14 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 6 xảy ra sớm, và thường tình trạng song thai một ối khi đạt tới 30-32 tuần thì nguy cơ này giảm xuống. Carr và cs [3] theo dõi 24 cặp song thai một ối từ thời điểm 18 tuần thai còn sống. Vào tuần 30, 70% thai còn sống và không có chết thêm nào thai nào cho tới khi sanh, tuổi thai trung bình 36 tuần. Các nghiên cứu kết luận rằng chấm dứt thai kỳ sớm để dự phòng bắt chéo động mạnh rốn có nhiều nguy cơ hơn chết thai do bắt chéo động mạnh rốn, đặc biệt sau 30 tuần. Dây rốn của 2 thai thường bắt chéo, nhưng các yếu tố dẫn tới các mạch máu bị siết chặt lại trong quá trình bắt chéo thì chưa được biết rõ. Aisenbrey [4] đã dùng siêu âm Doppler màu để chẩn đoán động mạch rốn bắt chéo trong 10 cặp song thai một ối: phát hiện 7 trường hợp có bắt chéo động mạnh rốn và được nhập viện theo dõi. Thật thú vị, chỉ có một cặp song thai có tình trạng động mạch rốn bắt chéo cần cho sanh ngay lập tức. Sáu trường hợp thai còn lại vẫn tiếp tục duy trì trung bình 6 tuần sau chẩn đoán, và một trường hợp duy trì tới 12 tuần. Tại đại học Alabama, song thai một ối được theo dõi bằng các xét nghiệm đánh giá sức khỏe thai mỗi 2 tuần từ lúc thai 28 tuần. Nếu xét nghiệm chẩn đoán thai cho thấy biểu đồ tim thai dao động tốt và không có nhịp giảm thì tới 34 tuần, chọc ối để xác định tuổi thai được thực hiện. Mổ lấy thai được thực hiện khi xét nghiệm xác định phổi đủ trưởng thành, hoặc 36 tuần. Betamethasone cho trưởng thành phổi được sử dụng tùy theo từng trường hợp. Hình 1.1 Siêu âm màu cho thấy hình ảnh 2 cuống rốn trộn vào nhau và sau sanh ghi nhận 2 dây rốn bị thắt chéo với nhau. [Nguồn: Peter M.Doubilet et al. Atlas of Ultrasound in Obstetrics in Gynecology. 2003] Hình 1.2. Các dạng của song thai dính [Nguồn từ Philippe Jeanty- http:// www.thefetus.net] TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(02), 17 - 25, 2016 19 Tậ p 14 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 6 (7) không thấy sự thay đổi vị trí của thai sau khi thử xoay thai bên ngoài. Brand và cs [8] tổng kết là các trường hợp chẩn đoán song thai dính thường phát hiện vào 3 tháng giữa của thai kỳ qua siêu âm, mà bố mẹ của thai nhi sẽ là người quyết định giữ hay bỏ thai. Tư vấn của các phẫu thuật viên nhi khoa sẽ hỗ trợ cha mẹ khi quyết định. Phẫu thuật tách dính của các trường hợp này có thể thành công khi các cơ quan cần thiết cho sự sống không bị dính và có thể thực hiện theo kế hoạch. Ví dụ trong trường hợp dính sọ não, nếu dính não theo mức độ A: chỉ dính sọ não còn phần nhu mô não như nhau thì khả năng sống sót là 70%; nhưng nếu ở mức độ C và D: phần mô não dính vào nhau, thậm chí có phần mô não bị thoát vị thì khả năng sống chỉ còn khoảng 30%. Một song thai dính có thể sống được nên được mổ lấy thai. Tuy nhiên, sanh ngã âm đạo có thể chỉ định nếu là bỏ thai, nhưng cuộc sanh có thể có nhiều nguy cơ cho mẹ như tổn thương tử cung hay cổ tử cung. 3. Song thai không tim Song thai không tim còn được gọi là tình trạng đảo ngược động mạch thai đôi, rất hiếm gặp 1/ 35.000 ca sanh, nhưng có một loạt các biến chứng của song thai đồng hợp tử, một ối. Trong tình trạng đảo ngược động mạch thai đôi, ban đầu thai cho là bình thường sẽ dần trở thành suy tim vì thai nhận không có tim và các cấu trúc khác. Tình trạng này được đặt giả thuyết là do sự thông nối động mạch- động mạch lớn, cũng có thể kèm theo thông nối tĩnh mạch- tĩnh mạch. Sự thông nối lớn dẫn tới sự mất cân bằng huyết động học giữa 2 thai, khiến cho hệ tim mạch của một thai lấn át hệ tim mạch của thai còn lại. Tim của thai cho- thai bơm đẩy máu qua các động mạnh rốn về bánh nhau và qua thông nối động mạch- động mạch để vào các động mạch cuống rốn của thai thiếu tim. Như vậy dòng chảy của các động mạch cuống rốn của thai thiếu tim bị đảo ngược. Thai thiếu tim nhận máu từ động mạch rốn, máu đi qua các cơ quan trở về tĩnh mạch rốn về bánh nhau, nơi mà qua thông nối tĩnh – tĩnh mạch để trở về thai bơm. Như vậy dòng chảy của tĩnh mạch thai thiếu tim cũng bị đảo ngược. Vì thai thiếu tim nhận máu nghèo oxy qua động mạch cho nên các cấu trúc được nuôi dưỡng bởi phần xa của động mạch chủ bụng và động mạch chậu còn được phát triển nhưng phần trên cơ thể và đầu sẽ trở nên ngưng phát triển hay phát triển một phần. Tuy nhiên, thai thiếu tim vẫn tiếp tục phát triển suốt thai kỳ. Nếu thai thiếu tim lớn, tim thai bơm sẽ trở nên quá tải và bị suy dẫn tới phù thai bơm hay thai bơm chết. Tỉ lệ thai bơm chết 50-70% nếu không được điều trị [9]. Điều trị sẽ nhằm mục đích ngưng sự thông thương mạch máu giữa thai cho và thai nhận. 4. Thông nối mạch máu giữa hai thai Với tỉ lệ rất thấp, thông nối mạch máu giữa 2 thai thường chỉ xảy ra giữa 2 thai một nhau. Gần như một trăm phần trăm nhau của các trường song thai một nhau có sự thông nối này, nhưng có rất nhiều thay đổi về số lượng, kích thước và hướng chuyển mạch máu của các thông nối ngẫu nhiên. Sự thông nối động mạch - động mạch trên bề mặt bánh nhau đã xác định lên tới 75% các trường hợp song thai 1 nhau và là dạng thường gặp nhất. Sự thông nối tĩnh mạch – tĩnh mạch và động mạch- động mạch xảy ra khoảng 50% trong các trường hợp song thai 1 nhau, một mạch máu có vài điểm thông nối, đôi khi cả động mạch và tĩnh mạch. Trái ngược với các thông nối mạch máu trên bề mặt màng đệm, thông nối động mạch- tĩnh mạch có xu hướng lan tới giường mao mạch gai nhau. Những thông nối động mạch – tĩnh mạch sâu có thể tạo thành khoang vi lông nhau chung hay tuần hoàn chung thứ ba mà được xác định trong ½ nhau của các trường hợp song thai 1 nhau. Hầu hết các thông nối mạch máu cân bằng về huyết động học và gây ít hậu quả cho thai. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp có sự thông nối trầm trọng về huyết động học giữa 2 thai. Hai kiểu thông nối mạch máu trầm trọng là song thai không Hình 1.3 Hình 2 cặp song thai không tim cho thấy sự kém phát triển hay không phát triển của thai nhận [ nguồn www. thefetus.net] NGUYỄN HỒNG HOA TỔ N G Q U A N 20 Tậ p 14 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 6 tim và hội chứng truyền máu thai nhi. Suất độ của hội chứng truyền máu thai nhi thì không rõ ràng, nhưng có khoảng ¼ các trường hợp thông nối mạch máu giữa 2 thai có một số đặc điểm của hội chứng này [10]. Truyền máu song thai Trong hội chứng này, máu được truyền từ thai cho tới thai nhận dẫn tới thai cho trở nên thiếu máu và sự phát triển có thể bị hạn chế, trong khi thai nhận trở nên đa hồng cầu và có thể có tình trạng quá tải biểu hiện thành phù thai. Thai cho thì tím tái trong khi thai nhận trở nên đa huyết. Tương tự, một phần bánh nhau thường trở nên tái nhợt so với phần bánh nhau. Giai đoạn sơ sinh có thể bị biến chứng bởi quá tải tuần hoàn với suy tim nếu tình trạng đa hồng cầu và tăng độ nhớt không được xác định và điều trị tích cực. Thuyên tắc mạch cũng có khuynh hướng phát triển trong tình trạng này. Trong giai đoạn sơ sinh, đa hồng cầu có thể dẫn tới tăng bilirubin máu và vàng da nhân. 4.1 Sinh bệnh học Bajoria và cs [11] truyền chất chống đông vào bánh nhau của 30 cặp song thai một nhau ngay sau sanh và rồi xác định vị trí thông nối bằng chất cản quang. Mặc dù không có hội chứng truyền máu thai nhi có nhiều trường hợp có nhiều thông nối trên bề mặt. Ngược lại, trường hợp có hội chứng truyền máu thai nhi chỉ có 1 sự thông nối động tĩnh mạch sâu ở các giường mao mạch của gai nhau. Họ đặt giả thuyết rằng thông nối mạch máu bề mặt bảo vệ chống lại hội chứng truyền máu thai nhi bởi vì sự sắp xếp này tạo nên dòng máu lưu thông 2 chiều, cân bằng. Ngược lại, Bermuder đánh giá 131 cặp song thai một nhau và quan sát thấy sự hiện diện thông nối nông ít làm giảm bớt nguy cơ thông nối mạch máu sâu. Một giải thích về tình trạng huyết động học của hội chứng truyền máu song thai của Fries và cs: dây rốn bám màng có thể góp phần sự mất cân bằng máu giữa 2 thai bởi vì nhau bám màng dễ bị chèn ép, hạn chế máu tới thai nhi. Talbert và cs sử dụng vi tính để đánh giá huyết động học 1 chiều và 2 chiều giữa cặp song thai có thông nối tại bánh nhau. Họ đã xác định hướng của dòng máu phụ thuộc vào áp lực động mạch của thai cho chứ không phải dựa vào số thông nối. 4.2 Tổn thương não thai nhi Liệt não, tật não nhỏ, tật lỗ não, và nhũn não là các biến chứng nặng kết hợp với thông nối mạch máu giữa 2 thai. Tổn thương thần kinh gây ra bởi sự hoại tử do thiếu máu tại chỗ dẫn tới tổn thương nhu mô não. Ở thai cho, thiếu máu tại chỗ do hạ huyết áp và thiếu máu. Ở thai nhận, thiếu máu tại chỗ do áp lực mạch máu không ổn định và từng đợt hạ áp nặng. Trong nghiên cứu, Bejar và cs [12] ghi nhận tình trạng tổn thương não xảy ra ở 15% trong 89 cặp song thai và 12 ca tam thai. Denbow và cs thống kê số liệu cho thấy có 17 cặp sanh sống ,1 màng đệm có hội chứng truyền máu thai nhi. Họ đã tìm thấy 1 cặp song thai có nhồi máu não và 10 trẻ sơ sinh khác có sang thương não mắc phải cần điều trị. Cả thai cho và thai nhận đều bị ảnh hưởng. Subcliffe và cs báo cáo tỉ lệ liệt não là 13 % cho cả thai cho và thai nhận mà sống được nhờ điều trị loại bỏ vị trí thông nối mạch máu của hội chứng truyền máu thai nhi. Bệnh lý não trong thai sống có nhiều khả năng xảy ra do hạ huyết áp cấp vào thời điểm 1 thai chết trong 2 thai. Khả năng ít gặp là do thuyên tắc khối huyết khối có nguồn gốc từ thai chết. Fusi và cs [13] quan sát thấy vào thời điểm một thai chết trong 2 thai, xảy ra hội chứng truyền máu cấp từ áp lực mạch máu cao ở thai sống qua mạch máu có kháng trở thành mạch thấp của thai chết dẫn tới tổn thương não do giảm huyết áp và thiếu máu khư trú. Nhóm này mô tả 8 cặp song thai 1 nhau mà có 1 thai chết nhưng thai còn lại vẫn tiếp tục sống. Đánh giá sau sanh cho thấy không có tình trạng Hình 1.4 Động mạch rốn thai cho thông nối với tĩnh mạch rốn thai nhận hậu quả là thai cho không đủ máu nuôi dưỡng, thiểu ối, thai nhận quá dư thừa máu, tăng bài tiết nước tiểu, đa ối[(Nguồn: Peter M.Doubilet et al. Atlas of Ultrasound in Obstetrics in Gynecology. 2003] TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(02), 17 - 25, 2016 21 Tậ p 14 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 6 đông máu nội mạch lan tỏa và tần suất tổn thương thần kinh không cao. Pharoah và cs [14] nghiên cứu 348 ca sống khi có 1 thai chết trong tử cung. Tỉ lệ liệt não là 83 ca trên 1000 trẻ sinh sống- nguy cơ tăng 40 lần. Okamura và cs [15] thực hiện chọc máu cuống rốn trên 7 trường hợp 1 thai sống và 1 thai chết trong vòng 24 giờ. Các thai này có tình trạng thiếu máu cấp, và các tổn thương não được đặt giả thuyết là do thiếu máu não khư trú sau hạ huyết áp vì truyền máu cấp. Bản chất của truyền máu thai nhi cấp trong song thai và sự hạ huyết áp sau khi một thai chết cho thấy gần như không thể đưa ra quyết định can thiệp hiệu quả cho thai còn sống. Thậm chí với việc cho sinh ngay lập tức sau khi thai lưu thì tình trạng hạ áp ngay khi thai chết đã gây tổn thương không phục hồi. 4.3 Chẩn đoán Chẩn đoán hội chứng truyền máu thai nhi trước hay sau sanh là một vấn đề. Chẩn đoán sau sanh dựa vào chênh lệch cân nặng giữa 2 thai từ 10-15 phần trăm và hemoglobin có sự chênh lệch 5 g/ dL với thai nhỏ có tình trạng thiếu máu. Tuy nhiên, hiện nay sự chênh lệch cân nặng giữa 2 thai có thể do nhiều nguyên nhân như bất cân xứng do dị tật, nhiễm trùng hoặc vấn đề dinh dưỡng. Ngoài ra, sự chênh lệch hemoglobin có thể gia tăng cấp vào thời điểm sinh. Wenstrom và cs [16] nghiên cứu 97 cặp song thai một màng đệm về cân nặng và nồng độ hemoglobin. Họ nhận thấy rằng chệnh lệch hemogl ... át triển bất cân xứng giữa 2 thai xuất hiện sớm hơn thường có dạng suy dinh dưỡng thể cân xứng và chết thai hơn. Nói chung, sự phát triển bất cân xứng giữa 2 thai càng sớm, hậu quả cho thai càng nhiều. Weissman và cs [21] chẩn đoán sự chênh lệch cân nặng vào tuần 6-11 trong 5 cặp song thai, thì tất cả các thai nhỏ đều bị dị tật nặng. 5.1 Bệnh sinh Nguyên nhân của chênh lệch cân nặng giữa 2 thai trong song thai thường không rõ ràng. Trong song thai 1 nhau, sự chênh lệch cân nặng thường do sự thông nối mạch máu trong bánh nhau dẫn tới sự mất cân bằng về huyết động học.Thai cho với tình trạng giảm áp lực máu và Hình 1.5 Khi các dị dạng lớn trong song thai một ối, chúng thường phát triển bất cân xứng. Cặp song thai phát triển bất cân xứng vì không có ổ nhớp. tưới máu dẫn tới bánh nhau không phát triển [22]. Đôi khi, song thai 1 nhau có sự phát triển bất cân xứng do bởi những bất thường không đồng đều về cấu trúc. Trong song thai dị hợp tử có nhiều yếu tố được tin là gây ra phát triển bất cân xứng. Song thai dị hợp tử có thể có yếu tố phát triển nội tại khác biệt, đặc biệt khi chúng có giới tính khác nhau. Ngoài ra, do bởi nhau bị tách ra và đòi hỏi nhiều khoảng làm tổ hơn, nên một nhau có thể ở một vị trí làm tổ kém thuận lợi hơn. Tỉ lệ phát triển bất cân xứng trong tam thai nhiều gấp 2 lần song thai cho thấy rằng sự không đủ chỗ của tử cung có vai trò trong sự hạn chế phát triển của thai. Eberle và cs[23] thực hiện xét nghiệm đánh giá giải phẫu bệnh bánh nhau trong 147 ca song thai cung cấp một cái nhìn quan trọng về nguyên nhân phát triển bất cân xứng. Nhau của thai nhỏ hơn trong cặp song thai có chênh lệch cân nặng có những sang thương điển hình như bánh nhau của đơn thai bị chậm phát triển trong tử cung, trong khi những sang thương này không tìm thấy trong song thai 1 nhau có chênh lệch cân nặng. 5.2 Chẩn đoán Có 2 vấn đề chưa chắc chắn trong chẩn đoán bất cân xứng trong song thai. Một, đo lường giải phẫu nào trên siêu âm có giá trị tiên đoán đáng tin cậy? Hai, sự chênh lệch cân nặng giá trị trên lâm sàng? Sự chênh lệch cân nặng giữa 2 thai có nhiều cách đánh giá. Một phương pháp thường dùng nhất là dùng tất cả các số đo lường thai để ước lượng cân nặng của từng thai và sau đó so sánh kích thước của thai nhỏ hơn so với thai lớn hơn (Cân nặng của thai lớn trừ đi cân nặng của thai nhỏ chia cho cân nặng của thai lớn). Một cách khác, xem xét trực tiếp tới sự chậm phát triển trong tử cung và chu vi vòng bụng chênh lệch hơn 20 mm. Hill và cs [24] đánh giá sự chênh lệch cân nặng trên siêu âm và nhận thấy chu vi vòng bụng thì ưu thế hơn chu vi vòng đầu, chiều dài xương đùi, và hoặc đường kính ngang tiểu não để làm chỉ số hữu dụng nhất để đánh giá sự chênh lệch cân nặng. Các số liệu thống kê cho thấy chênh lệch cân nặng, thường với một thai chậm phát triển trong tử cung hay cả hai thai thường là tiên lượng xấu cho kết quả thai kỳ. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(02), 17 - 25, 2016 23 Tậ p 14 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 6 Hollier và cs [25] nghiên cứu đánh giá 1370 cặp song thai sanh ở Parklank Hospital và phân loại chênh lệch cân nặng theo từng mức 5% trong giới hạn từ 15 tới 40%. Họ nhận thấy tỉ lệ suy hô hấp, xuất huyết trong não thất, co giật, nhiễm trùng và viêm ruột hoại tử gia tăng trực tiếp với mức độ chênh lệch cân nặng. Các tình trạng này tăng rõ rệt khi chênh lệch trên 25%. Nguy cơ chết thai tăng lên đáng kể 5,6 lần khi chênh lệch cân nặng trên 30% và gia tăng tới 18,9 khi chênh lệch trên 40%. 5.3 Xử trí Siêu âm theo dõi sự phát triển trong song thai đã trở nên là phương tiện chính trong theo dõi song thai. Các dấu hiệu siêu âm khác, như là thiểu ối, có thể trở nên hữu ích đánh giá nguy cơ thai. Tùy theo mức độ chênh lệch cân nặng và tuổi thai, sự giám sát kỹ thai sẽ được chỉ định, đặc biệt nếu một hoặc cả hai thai bộc lộ sự chậm phát triển. Chấm dứt thai kỳ thường không được chỉ định trong trường hợp chênh lệch cân nặng trừ khi thai đạt tới độ trưởng thành. 6. Chết một thai Đôi khi, một thai chết trước khi tới đủ trưởng thành, nhưng thai kỳ vẫn tiếp tục với một thai sống. Saito và cs [26] tổng kết 481 ca song thai và báo cáo rằng nguy cơ chết 1 thai trong song thai là 6.2%. Các yếu tố liên quan tới sự mất thai trong song thai được mô tả bởi Ryddhsom [27] khi tổng kết 15.066 cặp song thai có cân nặng trên 500g. Các cặp song thai có cùng giới tính có nguy cơ cao nhất: tỉ lệ một trong 2 thai chết trong cặp song thai khác giới tính là 1,1 trong khi sẽ là 2,6 nếu cùng Hình 1.6 một cặp song thai 24 giờ tuổi có cân nặng 1450g/450 g. Cặp song thai đã ngưng phát triển sau 22 tuần. Chuyển dạ sanh tự nhiên lúc 32 tuần giới tính. Sự chênh lệch cân nặng cũng gia tăng với nguy cơ chết thai. Tuy nhiên, trong cặp song thai khác giới tính, nguy cơ chết thai vẫn duy trì ở mức 1,2 % cho tới khi mức chênh lệch cân nặng trên 40-50%. Trong cặp song thai cùng giới tính, mức độ chênh lệch chỉ 20% hoặc trên 250 g là làm tăng nguy cơ. Sau khi chết một thai, nguy cơ chết của thai còn lại cũng sẽ tăng lên gấp 6 lần trong trường hợp song thai cùng giới tính. Mặc dù tình trạng nhau ối không được biết, nhưng các tác giả ước tính tỉ lệ chết của song thai dị hợp tử cùng giới tính thì tương ứng với song thai khác giới tính (0.8 %), và song thai một màng đệm có nguy cơ cao nhất chết thai. Tiên lượng thai sống tùy thuộc vào tuổi thai lúc thai chết, tình trạng nhau ối, và thời gian từ lúc thai lưu cho tới khi sanh thai sống. Thai lưu càng sớm như là “ hiện tượng song thai biến mất” không có vẻ làm gia tăng nguy cơ chết thai đối với thai sống trong tam cá nguyệt thứ nhất. Có gợi ý thú vị cho rằng sự giảm thai chọn lọc làm tăng nguy cơ sảy thai của tất cả các thai nhưng có vẻ không làm gia tăng nguy cơ cho mẹ hay thai khác. Vào cuối thai kỳ, sự chết của 1 thai về lý thuyết có thể dẫn tới các rối loạn đông máu ở mẹ. Tuy nhiên chỉ có vài trường hợp có rối loạn đông máu xảy ra trên người mẹ mang song thai sau khi có một thai chết, có lẽ bởi thai sống sẽ được sanh ra trong vòng vài tuần sau khi 1 thai lưu. Sự rối loạn đông máu một cách tự nhiên, thoáng qua đã được ghi nhận khi một thai chết và duy trì trong tử cung cùng với thai sống. Nồng độ fibrinogen giảm xuống, sau đó lại tăng lên một cách tự nhiên, và sau đó nồng độ của sản phẩm phân hóa của fibrin- fibrinogen giảm xuống về bình thường.Vào lúc sanh, phần nhau của thai sống có vẻ bình thường. Trái lại, phần mà chịu trách nhiệm cung cấp cho thai chết có sự lắng đọng khối fibrin, mà đến lượt nó dẫn đến giảm fibrinogen máu mẹ trực tiếp, và đưa tới tăng sản phẩm phân hủy fibrin. Nói cách khác, vị trí này ngăn cản sự thoát thromboplastin của thai và nhau vào máu mẹ và nhờ đó ngăn tình trạng đông máu nội mạch lan tỏa. Cả hai cơ chế này có thể cùng tác động cho tới khi tạo xơ hóa lan tỏa. Thai sống tiếp tục duy trì trong tử cung với fibrinogen huyết tương bình thường, sản phẩm NGUYỄN HỒNG HOA TỔ N G Q U A N 24 Tậ p 14 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 6 phân hóa fibrinogen- fibrin bình thường và số tiểu cầu bình thường vào lúc sanh. Xử trí tùy thuộc vào nguyên nhân thai chết lưu và nguy cơ cho thai sống. Phần lớn các trường hợp 1 thai lưu- 1 thai sống xảy ra trong song thai một màng đệm. Bằng chứng cho thấy tử suất trong song thai một nhau luôn do thông nối mạch máu, mà đầu tiên gây chết một thai rồi sau đó gây thiếu oxy ở thai còn lại. Benirschke và cs [22] kết luận rằng không có lý khi các chất thoái hóa của thai chết lại quay trở lại thai sống.Việc kiểm tra đông máu chỉ thực hiện trong vòng 5 tuần, sau đó ít có khả năng xảy ra. Xử trí tùy thuộc vào nguyên nhân thai chết lưu và nguy cơ cho thai sống. Phần lớn các trường hợp 1 thai lưu- 1 thai sống xảy ra trong song thai một màng đệm. Bằng chứng cho thấy tử suất trong song thai một nhau luôn do thông nối mạch máu, mà đầu tiên gây chết một thai rồi sau đó gây thiếu oxy ở thai còn lại. Benirschke và cs [22] kết luận rằng không có lý khi các chất thoái hóa của thai chết lại quay trở lại thai sống.Việc kiểm tra đông máu chỉ thực hiện trong vòng 5 tuần, sau đó ít có khả năng xảy ra. 7. Một thai bị đe dọa Các xét nghiệm đánh giá sức khỏe cho thấy một thai có bất thường sẽ đưa ra một tình huống rất khó xử. Sanh là cách lý tưởng cho thai suy nhưng có thể dẫn tới chết một thai chưa trưởng thành. Khi độ trưởng thành của thai đạt được, có thể cho sanh cả hai thai và một thai có thể nguy hiểm. Thật không may, xử trí trong trường hợp thai chưa trưởng thành là một vấn đề nhưng nên dựa trên sự toàn vẹn của 2 thai. Thường thai suy có tình trạng suy sinh dưỡng nặng hoặc dị tật. Vấn đề chọc ối trong song thai trước đó sẽ giúp phần nào cho vấn đề quyết định. 8. Chết cả hai thai Tỉ lệ chết cả hai thai, không tính số ca sảy thai khoảng 0.5% [27]. Các nguyên nhân liên quan tới thai chết là song thai một nhau và hai thai phát triển bất cân xứng. 9. Thai trứng toàn phần cùng tồn tại với một thai Tình trạng này khác với thai trứng bán phần bởi có 2 quá trình thụ thai khác biệt, với một nhau thai bình thường nuôi dưỡng cho một thai và một nhau bị thai trứng toàn phần.Xử trí lý tưởng chưa chắc chắn, nhưng thường cần phải sanh non vì chảy máu hoặc tiền sản giật nặng. Bristow và cs [29] đã ghi nhận 26 trường hợp và 73% các trường hợp cần lấy thai ra trước khi lấy có khả năng sống còn, nhưng số còn lại thai vẩn tiếp tục phát triển cho tới khi đủ trưởng thành. Sebire và cs [30] báo cáo tỉ lệ sống khoảng 40% trong 53 trường hợp thai tương tự. Nhưng bất kỳ trường hợp thai có tình trạng thai trứng đều có nguy cơ bệnh lý tế bào nuôi về sau. 10. Kết luận Các biến chứng của thai nhi trong song thai luôn là một thử thách cho các nhà sản khoa trong suốt thai kỳ và khi sinh. Nắm vững các biến chứng cho thai nhi sẽ tạo nền tảng xây dựng các chương trình chăm sóc tiền thai- theo dõi sanh hiệu quả, đạt được các mục tiêu: 1. Ngăn ngừa sanh cực non 2. Xác định tình trạng không phát triển của một hoặc hai thai và thai nguy cơ để can thiệp kịp thời trước khi thai chết lưu 3. Tránh các tai biến chấn thương thai khi sanh 4. Chuẩn bị sẵn sàng cho hồi sức sơ sinh và chăm sóc sau sanh một cách hiệu quả nhằm giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng có hại cho sự phát triển sau này của hai thai. Tài liệu tham khảo [1] JG, H. (2003). Twinning Lancet, 326, 735 [2] Allen VM, W. R., Barrett J, et al. (2001). Management of monoamnotic twin pregnancies: A case series and systematic review of the literature. Br J Obstet Gynaecol, 108, 931. [3] Carr SR, A. M., Coustan DR. (1990). Survival rates of monoamnionic twins do not increase after 30 weeks gestation. Am J Obstet Gynecol, 163, 719. [4] Aisenbrey GA, C. V., Hurley TJ, et al. (1995). Monoamniotic and pseudomonoamniotic twins: Sonographic diagnosis, detection of cord entandlement, and obstetric managenent Obstet Gynecol, 86, 218 [5] Tan KL, G. S., Salmon Y, et al. (1971). Conjoined twins. Acta Obstet Gynecol Scand, 50, 373. [6] Potter EL, C. J. (1975). Pathology of the fetus and the infant. Chicago : Year book Medical Publishers. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(02), 17 - 25, 2016 25 Tậ p 14 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 6 [7] Koontz W.L, H. M. (1983). Ultrasonography in the antepartum diagnosis of conjoined twins. J Reprod Med, 28, 627 [8] Van den Brand SF, N. J., van Dongen PW. (1994). Prenatal ultrasound diagnosis of conjoined twins. Obstet Gynecol Surv, 49, 656 [9] Moore TR, G. S., Benirschke K. (1990). Perinatal outcome of forty nine pregnancies complicated by acardiac twinning. Am J Obstet Gynecol, 163, 907 [10] Galea P, S. J., Goel KM. (1982). Feto-fetal transfusion syndrome. Arch Dis Child 57, 781 [11] Bajoria R, W. J., Fisk NM. (1995). Angioarchitecture of monochorionic placentas in relation to the twin-twin transfusion syndrome. Am J Obstet Gynecol, 172, 856. [12] Bejar R, V. G., Gramajo H, et al. (1990). Antenatal origin of neurological damage in newborn infants,2. Multiple gestations. Am J Obstet Gynecol, 162, 1230 [13] Fusi L, M. P., Fisk N, et al. (1991). Acute twin-twin transfusion : A possible mechanism for brain -damaged survivors after intrauterine death of a monochorionic twin. Obstet Gynecol, 178, 517. [14] Pharoah PO, A. Y. (2000). Consequences of in-utero death in twin pregnancy. Lancet, 355, 1597 [15] Okamura K, M. J., Tanigawara S, et al. (1994). Funipuncture for evaluation indices in the surviving twin following co-twin’s death. Obstet Gynecol, 83, 97 [16] Wenstrom KD, T. J., Zlatnik FJ, et al. (1992). Frequency, distribution, and theoretiacal mechanisms of hematologic and weight discordance in monochorionic twins. Obstet Gynecol, 80, 257 [17] Danskin FH, N. J. (1989). Twin to twin transfusion syndrome : What are appropriate diagnostic criteria? Am J Obstet Gynecol, 161, 365. [18] Saunders NJ, S. R., Nicolaiders KH. (1991). Twin- twin transfusion syndrome during the 2nd trimester is associated with small intertwin hemoglobin differences. Fetal Diagn Ther 6, 34 [19] Bruner JP, R. R. (1993). Twin-to twin transfusion syndrome: A subset of the twin oligohydramnios- polyhydramnios sequence. Am J Obstet Gynecol, 169, 925 [20] Lutfi S, A. V., Fahey J, et al. (2004). twin-twin transfusion syndrome: A population - based study Obstet Gynecol, 104, 1289. [21] Weissman A, A. R., Lipitz S, et al. (1994). The first- trimester growth- discordant twin: An ominous prenatal finding. Obstet Gynecol, 84, 110 [22] Benirschke K. (1993). Intrauterine death of a twin: Mechanisms, implications for surviving twin, and placental pathology. . Semin Diagn Pathol [23] Eberle AM, L. D., Vintzileos AM, et al. (1993). Placental pathology in discordant twins. Am J Obstet Gynecol, 169, 931 [24] Hill LM, G. D., Chenevey P, et al. (1994). The sonographic assessment of twin discordancy. Obstet Gynecol, 84, 50 [25] Hollier LM, M. I. D., Leven KJ. (1999). Outcome of twin pregnancies according to intrapair birth weight differences. Obstet Gynecol, 94(1006). [26] Saito G, M. K., Dorman K, et al. (1999). Perinatal outcome and management of single fetal death in twin pregnancy: A case series and review. J Perinat Med, 27, 473 [27] Rydhstrom H. (1994). Discordant birthweight and late death in like sexed and unlike-sexed twin pairs : A population -based study. Br J Obstet Gynaecol, 101, 765. [28] Santema JG, S. A., Wallenburg HCG. (1995). Expectant management of twin pregnancy with single fetal death. Br J Obstet Gynaecol, 102, 26. [29] Bristow RE, S. J., Khouzami AN, et al. (1996). Complete hydatidiform mole and surviving coexisent twin. Obstet Gynecol Surv, 51, 705. [30] Sebire NJ, F. M., Paradinas FJ, et al. (2002). Outcome of twin pregnancies with complete hydatidiform mole and healthy co-twin. Lancet, 359, 2165
File đính kèm:
cac_bien_chung_cua_song_thai.pdf

