Bước đầu đánh giá vai trò của chỉ số sức khoẻ tuyến tiền liệt trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt tại Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Bình Dân

Đặt vấn đề: Sinh thiết tuyến tiền liệt (TTL) với ngưỡng PSA từ 4 đến 10 ng/mL là một thách thức lớn đối

với các nhà lâm sàng do khoảng hai phần ba kết quả sinh thiết là lành tính. Chỉ số sức khỏe tuyến tiền liệt (PHI) qua các nghiên cứu gần đây cho thấy cải thiện đáng kể độ chính xác trong chẩn đoán khi so với tPSA và %fPSA.

Mục tiêu: Mục đích của bài báo này nhằm đánh giá vai trò của PHI trong chẩn đoán ung thư TTL.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các trường hợp có PSA từ 4 đến 10 ng/ml được khám và

sinh thiết tuyến tiền liệt tại bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện Bình Dân. Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang mô tả. Biến số nghiên cứu bao gồm: tPSA, freePSA, p2PSA, Gleason score, kết quả sinh thiết tuyến tiền liệt.

Kết quả: Từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2020 có 113 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu với tuổi trung

bình 66 9,1; tPSA trung bình 6,5 1,7; AUC của PHI là 0,79.

Kết luận: Diện tích dưới đường cong (AUC) của PHI tỏ ra ưu thế hơn so với TotalPSA, độ nhạy của PHI

là 85%, độ đặc hiệu 25%.

pdf 4 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Bước đầu đánh giá vai trò của chỉ số sức khoẻ tuyến tiền liệt trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt tại Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Bình Dân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bước đầu đánh giá vai trò của chỉ số sức khoẻ tuyến tiền liệt trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt tại Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Bình Dân

Bước đầu đánh giá vai trò của chỉ số sức khoẻ tuyến tiền liệt trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt tại Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Bình Dân
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 248 
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CHỈ SỐ SỨC KHOẺ 
TUYẾN TIỀN LIỆT TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT 
TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY VÀ BỆNH VIỆN BÌNH DÂN 
Lê Hữu Thuận1, Ngô Xuân Thái2, Thái Minh Sâm1,2, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng3, Châu Quý Thuận1, 
Hoàng Khắc Chuẩn1, Thái Kinh Luân2, Nguyễn Thành Tuân2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Sinh thiết tuyến tiền liệt (TTL) với ngưỡng PSA từ 4 đến 10 ng/mL là một thách thức lớn đối 
với các nhà lâm sàng do khoảng hai phần ba kết quả sinh thiết là lành tính. Chỉ số sức khỏe tuyến tiền liệt (PHI) 
qua các nghiên cứu gần đây cho thấy cải thiện đáng kể độ chính xác trong chẩn đoán khi so với tPSA và %fPSA. 
Mục tiêu: Mục đích của bài báo này nhằm đánh giá vai trò của PHI trong chẩn đoán ung thư TTL. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các trường hợp có PSA từ 4 đến 10 ng/ml được khám và 
sinh thiết tuyến tiền liệt tại bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện Bình Dân. Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang mô 
tả. Biến số nghiên cứu bao gồm: tPSA, freePSA, p2PSA, Gleason score, kết quả sinh thiết tuyến tiền liệt. 
Kết quả: Từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2020 có 113 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu với tuổi trung 
bình 66 9,1; tPSA trung bình 6,5 1,7; AUC của PHI là 0,79. 
Kết luận: Diện tích dưới đường cong (AUC) của PHI tỏ ra ưu thế hơn so với TotalPSA, độ nhạy của PHI 
là 85%, độ đặc hiệu 25%. 
Từ khoá: ung thư tuyến tiền liệt, chỉ số sức khỏe tuyến tiền liệt 
ABSTRACT 
INITIAL ASSESSMENT OF THE ROLE OF THE PROSTATE HEALTH INDEX IN THE DIAGNOSIS OF 
PROSTATE CANCER AT CHO RAY HOSPITAL AND BINH DAN HOSPITAL 
Le Huu Thuan, Ngo Xuan Thai, Thai Minh Sam, Nguyen Phuc Cam Hoang, Chau Quy Thuan, Hoang 
Khac Chuan, Thai Kinh Luan, Nguyen Thanh Tuan 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 248 - 251 
Background: Deciding when to biopsy a man with non-suspicious DRE findings and totalPSA in the 4–
10 ng/ml range can be challenging, because two-thirds of such biopsies are typically found to be benign. The 
Prostate Health Index (phi) exhibits significantly improved diagnostic accuracy for prostate cancer detection 
when compared to tPSA and %fPSA. 
Objective: The purpose of this article is to assess the role of PHI in diagnosing prostate cancer. 
Methods: All case with PSA total from 4 to 10ng/ml in Cho Ray Hospital and Binh Dan Hospital. Research 
methodology: descriptive case study. Study variables include: PSAtotal, freePSA, p2PSA, Gleason score, prostate 
biopsy result. 
Results: The mean age was 66 9,1 and the mean PSA was 6.5 1.7. The AUC of PHI was 0.795. 
Conclusion: The AUC to detect aggressive prostate cancer was 0.907. The sensitivity and specificity of PHI 
was 85% and 27.3%, respectively. 
Key words: prostate cancer, prostate health index 
1Bệnh viện Chợ Rẫy 2BMTiết Niệu Học, ĐH Y Dược TP. Hồ Chí Minh 3Bệnh viện Bình Dân 
Tác giả liên lạc: BS. Lê Hữu Thuận ĐT: 0984514917 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 249 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) là bệnh ung 
thư phổ biến thứ hai trên thế giới, và tỷ lệ mắc 
mới của nó ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương 
đang ngày càng gia tăng(1). May mắn thay, việc 
sử dụng nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến 
tiền liệt (PSA) trong huyết thanh như là một 
công cụ chẩn đoán đã làm tăng tỷ lệ phát hiện 
UTTTL ở giai đoạn sớm hơn, khi đó việc điều trị 
bằng các liệu pháp khác nhau có thể kiểm soát 
đầy đủ quá trình diễn tiến của bệnh. Tuy nhiên, 
nồng độ PSA trong huyết thanh không phải là 
một dấu ấn sinh học ung thư lý tưởng, bởi vì nó 
có thể tăng do nhiều nguyên nhân khác (chẳng 
hạn như tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt và 
viêm tuyến tiền liệt), do đó PSA không phải là 
một dấu ấn sinh học đặc hiệu cho ung thư tuyến 
tiền liệt(2). Với các kết quả dương tính giả thu 
được bằng xét nghiệm PSA trong quá trình sàng 
lọc, nhiều bệnh nhân phải tiến hành sinh thiết 
tuyến tiền liệt dưới hướng dẫn siêu âm qua ngã 
trực tràng (TRUSPB) không cần thiết, đây là một 
thủ thuật xâm lấn có thể dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh 
đáng kể và thậm chí tử vong. 
Nhiều phương pháp tiếp cận khác đã được 
khám phá để cải thiện khả năng của PSA trong 
việc phát hiện ung thư tuyến tiền liệt, chẳng hạn 
như sự liên quan của nồng độ PSA với thể tích 
tuyến tiền liệt (PSA density), tốc độ thay đổi PSA 
theo thời gian (PSA velocity) và tỷ lệ các dạng 
PSA không phức tạp khác nhau trong huyết 
thanh. Một trong những cách tiếp cận gần đây 
nhất là đo lường PSA isoform, [-2]proPSA 
(p2PSA) và tổ hợp thuật toán được tính toán từ 
p2PSA: Prostate Health Index (PHI)(3). Năm 2012, 
Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ 
đã phê duyệt việc sử dụng PHI trong việc phát 
hiện PCa ở nam giới trên 50 tuổi với mức PSA 
huyết thanh từ 2–10 ng/mL và thăm khám trực 
tràng (DRE) không nghi ngờ(4). Xác nhận lâm 
sàng ban đầu của marker ung thư tuyến tiền liệt 
mới này trong việc phát hiện ung thư tuyến tiền 
liệt khi so với PSA được thực hiện chủ yếu trên 
quần thể da trắng(5). Để xác nhận hiệu quả lâm 
sàng của PHI trong một dân số châu Á, mà cụ 
thể là dân số Việt Nam chúng tôi đã so sánh khả 
năng của PHI với các dẫn xuất PSA khác trong 
việc phát hiện ung thư tuyến tiền liệt ở những 
bệnh nhân có nồng độ PSA trong huyết thanh từ 
4 đến 10 ng/mL. 
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Các mẫu huyết thanh lưu trữ từ bệnh nhân 
khám sức khỏe tại bệnh viện Bình Dân và bệnh 
viện Chợ Rẫy có tổng mức PSA huyết thanh từ 
4–10 ng/mL và thăm khám trực tràng không 
nghi ngờ, sau đó họ được sinh thiết tuyến tiền 
liệt dưới hướng dẫn siêu âm qua ngã trực tràng 
tiêu chuẩn (10 đến 12 mẫu) từ tháng 9/2019 đến 
tháng 8/2020. 
Tiêu chuẩn chọn 
Nam giới có nồng độ PSA trong huyết thanh 
trong khoảng 4–10 ng/mL và kết quả thăm khám 
trực tràng bằng ngón tay không nghi ngờ được 
đưa vào nghiên cứu. Sinh thiết ít nhất 10 mẫu 
mô tuyến tiền liệt. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Bệnh nhân có tiền sử ung thư tuyến tiền liệt 
đã biết hoặc có tiền sử phẫu thuật tuyến tiền liệt 
đối với bất kỳ tình trạng tuyến tiền liệt nào. 
Bệnh nhân có tiền sử nhiễm khuẩn đường 
tiết niệu, bí tiểu cấp tính, sỏi bàng quang, và 
massage tuyến tiền liệt trong vòng 3 tháng trước 
khi lấy máu. 
Bệnh nhân có tiền sử sử dụng thuốc ức chế 
reductase 5- hoặc bất kỳ loại thuốc nào khác có 
đặc tính chống androgenic (chẳng hạn như 
thuốc chẹn thụ thể androgen, ketoconazole) bất 
cứ lúc nào trước khi thu thập máu. 
Sau khi đã xác định các đối tượng đủ điều 
kiện, thu thập dữ liệu lâm sàng, mẫu huyết 
thanh thu thập trước khi sinh thiết, và kết quả 
sinh thiết được lấy ra cho nghiên cứu. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 250 
Phương pháp thống kê 
Sự khác biệt về độ tuổi trung bình, thể tích 
tuyến tiền liệt và mức độ của các dẫn xuất PSA 
khác nhau giữa ung thư tuyến tiền liệt và bệnh 
nhân không phải ung thư tuyến tiền liệt được 
đánh giá bằng cách sử dụng phép kiểm t-student 
đối với dữ liệu bình thường và xét nghiệm 
Mann-Whitney U cho dữ liệu lệch. Tất cả các số 
liệu thống kê mô tả và so sánh được thực hiện 
bằng cách sử dụng gói phần mềm SPSS v.22.0 
(SPSS, Chicago, IL, Hoa Kỳ). Diện tích dưới 
đường cong ROC (AUCs) và độ nhạy và độ đặc 
hiệu được tính toán dựa trên hồi quy logistic đa 
biến để đánh giá hiệu suất chẩn đoán của các xét 
nghiệm khác nhau về việc chẩn đoán ung thư 
tuyến tiền liệt. Các AUC của các đường cong 
ROC và phân tích đa biến được tính toán bằng 
cách sử dụng SPSS 22. 
KẾT QUẢ 
Hình 1: Diện tích dưới đường cong ROC của các chỉ số 
Từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020, 
có 113 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu. 
Trong đó có 13 bệnh nhân (11,5 %) được chẩn 
đoán là ung thư tuyến tiền liệt từ kết quả sinh 
thiết ban đầu. Thông tin cơ bản của những bệnh 
nhân này được cung cấp trong Bảng 1. 
Diện tích dưới đường cong ROC của tPSA, 
%fPSA, %p2PSA, và phi lần lượt là 0,737; 0,483; 
0,779 và 0,795 (Bảng 2). Trong số các thông số 
khác nhau, PHI cho thấy hiệu suất tốt nhất trong 
việc dự đoán kết quả của sinh thiết tuyến tiền 
liệt ban đầu trong dân số. 
Bảng 1: Đặc điểm của các biến nghiên cứu 
 Overall N = 113 p value 
Age (years) 66,47 9,1 (43–90) 0,172 
Total PSA (ng/ml)
a
 6,57 1,7 (4–10) 0,378 
Free PSA (ng/ml) 1,56 (0,16–19,7) 0,566 
Free to total PSA ratio 
(%fPSA, %) 
24,74 4,2 
(2.64–87,34) 
0,275 
p2PSA level (pg/ml) 
15,37 5,1 
(2,36–133,78) 
0,020 
phi 
37,33 26,6 
(3,76–152,55) 
0,001 
a Measured by a Roche Cobas e601 system calibrated with 
the WHO 96/670 reference standard 
Bảng 2: Diện tích dưới đường cong ROC 
Diện tích dưới đường cong ROC 
Diện 
tích 
ROC 
P value 
Khoảng tin cậy 95% 
Ngưỡng 
dưới 
Ngưỡng 
trên 
PHI 0,795 0,001 0,644 0,945 
%freePSA 0,483 0,838 0,343 0,622 
PSA 0,737 0,006 0,616 0,857 
p2PSA 0,779 0,001 0,626 0,932 
Bảng 3: Tỷ lệ PHI trung bình theo Gleason score 
Gleason score 7 
UTTTL 2 7 1 3 
PHI trung bình 53,4 53,5 50,7 120,6 
Bảng 4: Tỷ lệ tránh sinh thiết trên toàn dãy PHI 
PHI 
level 
Pca 
(n=13) 
PBH 
(n=100) 
Khả năng chẩn đoán 
PCa 
<25 3 49 6,1 % 
25-35 4 24 16,6 % 
35-55 8 38 21,05 % 
>55 6 19 31,5% 
BÀN LUẬN 
Mặc dù PSA có vai trò đáng kể trong việc 
phát hiện UTTTL giai đoạn đầu, một số vấn đề 
liên quan đến việc sử dụng PSA trong chẩn 
đoán của UTTTL vẫn chưa được giải quyết. Do 
PSA thiếu đặc hiệu cho ung thư, dẫn đến một 
số lượng lớn bệnh nhân có nồng độ PSA nằm 
trong vùng xám (4-10 ng/ml) phải tiến hành 
sinh thiết tuyến tiền liệt không cần thiết(6). PHI 
đã được chứng minh là cho kết quả tốt hơn so 
với tPSA và %fPSA trong chẩn đoán ung thư 
tuyến tiền liệt ở những bệnh nhân có nồng độ 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 251 
PSA trong huyết thanh từ 2 đến 10 ng/mL(7,8). 
Trong một phân tích gộp của tác giả 
CatalonaWJ, ở độ nhạy 90%, độ đặc hiệu của 
PHI là 32% (khoảng tin cậy 95%: 26-43%) và 
các AUCs thu được bằng cách phân tích ROC 
là từ 0,703 đến 0,77(5,9). Hầu hết các dữ liệu hiện 
tại trên PHI được dựa trên các nghiên cứu ở 
quần thể người da trắng, nơi mà tỷ lệ ung thư 
tuyến tiền liệt cao hơn chủng tộc châu Á. 
Ito K báo cáo việc áp dụng p2PSA và PHI 
trên dân số Nhật Bản với mức độ tPSA dao động 
từ 2 đến 10 ng/mL, có hoặc không có kết quả 
thăm khám trực tràng bất thường(10). Kết quả cho 
thấy rằng với mỗi khoảng PHI trong chẩn đoán 
ung thư tuyến tiền liệt đều vượt trội so với tPSA 
và %fPSA ở tất cả các độ nhạy. 
Kết quả của chúng tôi cho thấy PHI cũng 
hoạt động tốt hơn các thông số khác, ngay cả với 
tỷ lệ sinh thiết dương tính khoảng 11,5%. Diện 
tích dưới đường cong (AUC) của PHI là 0,79, 
cũng gần tương đương các phân tích khác. So 
với báo cáo từ Ito, dân số của chúng tôi có tỷ lệ 
sinh thiết dương tính thấp hơn (11,5 so với 18,3% 
ở những bệnh nhân có kết quả thăm khám trực 
tràng bình thường)(10). Cả hai nghiên cứu hỗ trợ 
việc sử dụng PHI trong quần thể châu Á để cải 
thiện độ chính xác của chẩn đoán ung thư tuyến 
tiền liệt. 
Ngoài vai trò của PHI trong chẩn đoán ung 
thư tuyến tiền liệt, việc sử dụng PHI cũng có thể 
giúp dự đoán bệnh lý của ung thư tuyến tiền 
liệt. Trong nghiên cứu của chúng tôi, một sự 
khác biệt đáng kể đã được quan sát thấy giữa 
mức PHI ở những bệnh nhân có điểm Gleason là 
3 +3 và những người có Gleason >7. Tuy nhiên, 
do kích thước mẫu nhỏ (chỉ có 13 trường hợp 
PCa, 03 trong số đó có Gleason >7), phân tích có 
ý nghĩa hơn về mối tương quan với bệnh lý là 
khó khăn. Do đó, cần có các nghiên cứu sâu hơn 
về vai trò của PHI trong việc dự đoán kết quả 
bệnh lý ở quần thể châu Á. 
KẾT LUẬN 
Như đã được chứng minh trong các nghiên 
cứu khác, việc sử dụng p2PSA và các dẫn xuất 
của PSA cải thiện độ chính xác của việc phát 
hiện ung thư tuyến tiền liệt ở những bệnh nhân 
có mức PSA từ 4 đến 10 ng/ml trong dân số châu 
Á, nơi có tỷ lệ mắc ung thư tuyến tiền liệt thấp 
hơn so với châu Âu và châu Mỹ. Trong số các 
thông số khác nhau, PHI cho thấy độ nhạy và độ 
đặc hiệu tốt nhất, và việc sử dụng PHI có thể 
làm giảm đáng kể số lượng bệnh nhân được 
chọn để sinh thiết tuyến tiền liệt. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Chen R, Ren S, Yiu MK, et al (2014). Prostate cancer in Asia: A 
collaborative report. Asian J Urol, 1(1):15-29. 
2. Siegel R, Naishadham D, Jemal A (2013). Cancer statistics. CA 
Cancer J Clin, 63(1):11-30. 
3. Tan LG, Tan YK, Tai BC, et al (2017). Prospective validation of 
%p2PSA and the Prostate Health Index, in prostate cancer 
detection in initial prostate biopsies of Asian men, with total 
PSA 4-10 ng ml-1. Asian J Androl, 19(3):286-290. 
4. Ferro M, Bruzzese D, Perdonà S, et al (2013). Prostate Health 
Index (Phi) and Prostate Cancer Antigen 3 (PCA3) Significantly 
Improve Prostate Cancer Detection at Initial Biopsy in a Total 
PSA Range of 2-10 ng/ml. PLoS One, 8(7):1-7. 
5. Catalona WJ, Partin AW, Sanda MG, et al (2011) A multicenter 
study of [-2]pro-prostate specific antigen combined with 
prostate specific antigen and free prostate specific antigen for 
prostate cancer detection in the 2.0 to 10.0 ng/ml prostate 
specific antigen range. J Urol, 185(5):1650-1655. 
6. Carter HB (2018) American urological association (AUA) 
guideline on prostate cancer detection: Process and rationale. 
BJU Int, 112(5):543-547. 
7. Chiu PK, Ng CF, Semjonow A, et al (2018). A multi-centre 
evaluation of the role of Prostate Health Index (PHI) in regions 
with different prevalences of prostate cancer: A different 
reference range is needed for Europea n and Asian. Eur Urol 
Suppl, 17(2):e540-e542. 
8. Guazzoni G, Lazzeri M, Nava L, et al (2012). Preoperative 
prostate-specific antigen isoform p2PSA and its derivatives, 
%p2PSA and prostate health index, predict pathologic 
outcomes in patients undergoing radical prostatectomy for 
prostate cancer. Eur Urol, 61(3):455-466. 
9. Loeb S, Sokoll LJ, Broyles DL, et al (2013). Prospective 
multicenter evaluation of the Beckman coulter prostate health 
index using WHO calibration. J Urol, 189(5):1702-1706. 
10. Ito K, Miyakubo M, Sekine Y, et al (2013). Diagnostic 
significance of [-2]pro-PSA and prostate dimension-adjusted 
PSA-related indices in men with total PSA in the 2.0-10.0 ng/mL 
range. World J Urol, 31(2):305-311. 
Ngày nhận bài báo: 10/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfbuoc_dau_danh_gia_vai_tro_cua_chi_so_suc_khoe_tuyen_tien_lie.pdf