Bước đầu đánh giá một số tác dụng phụ của thuốc cấy tránh thai sau cấy 6 tháng đầu

Mục tiêu: Đánh giá một số tác dụng phụ của khách hàng sử dụng

thuốc cấy tránh thai trong 6 tháng đầu.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu 120 khách hàng đến

cấy thuốc cấy tránh thai tại Trung tâm Tư vấn sức khoẻ sinh sản – Kế

hoạch hoá gia đình (SKSS – KHHGĐ), bệnh viện Phụ sản Trung ương

từ 01/06/2017 đến 31/08/2017, theo dõi khách hàng trong thời gian 6

tháng đến 28/02/2018.

Kết quả: 4 khách hàng có kinh nguyệt bình thường (3,3%), 51 người

(42,5%) vô kinh, 25% rong kinh rong huyết. Tác dụng phụ thường gặp

nhất không liên quan đến kinh nguyệt là thay đổi cân nặng, chiếm

32,6%, tăng cân ít nhất là 1 kg, nhiều nhất là 10 kg, trên 5 kg là 8,3%.

Số khách hàng phải đến tháo thuốc cấy tránh thai trong 6 tháng đầu

chiếm tỷ lệ 7,5%, sớm nhất là sau 2 tháng. Tỷ lệ khách hàng tiếp tục sử

dụng sau 6 tháng là 92,5%.

Kết luận: Thuốc cấy tránh thai là một biện pháp tránh thai tạm thời đạt

hiệu quả cao, tỷ lệ hài lòng của khách hàng cao, tỷ lệ tác dụng phụ thấp

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Bước đầu đánh giá một số tác dụng phụ của thuốc cấy tránh thai sau cấy 6 tháng đầu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bước đầu đánh giá một số tác dụng phụ của thuốc cấy tránh thai sau cấy 6 tháng đầu

Bước đầu đánh giá một số tác dụng phụ của thuốc cấy tránh thai sau cấy 6 tháng đầu
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 117 - 121, 2018
117
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Hà Duy Tiến, Đào Văn Thụ, Phan Thành Nam 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TÁC DỤNG PHỤ 
CỦA THUỐC CẤY TRÁNH THAI
SAU CẤY 6 THÁNG ĐẦU
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phan Thành Nam, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: Thuốc cấy tránh thai, 
Implanon NXT, tác dụng phụ.
Keywords: Contraceptives 
implant, Implanon, side effect.
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá một số tác dụng phụ của khách hàng sử dụng 
thuốc cấy tránh thai trong 6 tháng đầu. 
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu 120 khách hàng đến 
cấy thuốc cấy tránh thai tại Trung tâm Tư vấn sức khoẻ sinh sản – Kế 
hoạch hoá gia đình (SKSS – KHHGĐ), bệnh viện Phụ sản Trung ương 
từ 01/06/2017 đến 31/08/2017, theo dõi khách hàng trong thời gian 6 
tháng đến 28/02/2018. 
Kết quả: 4 khách hàng có kinh nguyệt bình thường (3,3%), 51 người 
(42,5%) vô kinh, 25% rong kinh rong huyết. Tác dụng phụ thường gặp 
nhất không liên quan đến kinh nguyệt là thay đổi cân nặng, chiếm 
32,6%, tăng cân ít nhất là 1 kg, nhiều nhất là 10 kg, trên 5 kg là 8,3%. 
Số khách hàng phải đến tháo thuốc cấy tránh thai trong 6 tháng đầu 
chiếm tỷ lệ 7,5%, sớm nhất là sau 2 tháng. Tỷ lệ khách hàng tiếp tục sử 
dụng sau 6 tháng là 92,5%. 
Kết luận: Thuốc cấy tránh thai là một biện pháp tránh thai tạm thời đạt 
hiệu quả cao, tỷ lệ hài lòng của khách hàng cao, tỷ lệ tác dụng phụ thấp.
Từ khoá: Thuốc cấy tránh thai, Implanon NXT, tác dụng phụ.
Abstract 
 PRELIMINARY SURVEY SIDE EFFECTS OF 
CONTRACEPTIVES IMPLANT AFTER IMPLANTING 
SIX MONTHS 
Objective: To assess side effects during the first 6 months of 
using Implanon. 
Methods: A prospective study involing 120 clients who have 
implantation in the centre for reproductive health consultation and family 
planning, National Hospital of Obstetrics and Gynecology from 1 June 
2017 to 31 August 2017, followed up for six month to 28 Feb 2018. 
Result: Four of 120 customers had normal periods (3.3%), 51 (42.5%) 
were amenorrhoeic and 25% were menorrhagia or hemorrhage. The 
HÀ DUY TIẾN, ĐÀO VĂN THỤ, PHAN THÀNH NAM
118
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
most common non-menstrual side effect was weight changes (32.6%), gain from 1 to 10 kg, ≥ 5 kg 
was 8.3%. During the study period, Implanon was removed by 9 patients (7.5%), the earliest was 
after 2 months. 92.5% of cases continued using Implanon after 6 months. 
Conclusions: Contraceptives implant is a highly cost-effective long-term reversible contraception, 
the high rate of clients’ satisfaction, the low rate of side effect.
Keywords: Contraceptives implant, Implanon, side effect.
1. Đặt vấn đề
Thuốc cấy tránh thai là một biện pháp tránh thai 
tạm thời có chứa progestin, gồm loại 1 nang cấy, 
chứa 68 mg lenorvogestrel (Implanon NXT) và loại 
2 nang cấy, mỗi nang chứa 75 mg etonogestrel 
(Femplant). Đây là biện pháp tránh thai có hiệu 
quả cao, có nhiều ưu điểm nhưng cũng có một số 
tác dụng phụ không mong muốn [1].
Theo Đoàn Thị Ái năm 2000, Trần Thị Phương 
Mai đã tiến hành nghiên cứu đánh giá về hiệu quả, 
tác dụng phụ của thuốc cấy tránh thai tại Bệnh viện 
Phụ Sản Trung ương [2].
Hiện nay, Trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản 
và kế hoạch gia đình (SKSS – KHHGĐ) Bệnh viện 
Phụ Sản Trung ương, khách hàng lựa chọn thuốc 
cấy tránh thai Implanon NXT ngày càng tăng lên, 
từ 308 trường hợp năm 2014 đến năm 2017 là 
407 trường hợp. Điều này cho thấy thuốc cấy tránh 
thai có nhiều ưu điểm và thêm một sự lựa chọn cho 
khách hàng. Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận thấy 
có một tỷ lệ nhỏ khách hàng cảm thấy rắc rối vì 
gặp phải một số tác dụng phụ khi sử dụng. Những 
tác dụng phụ này thường gặp trong 6 tháng đầu.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Bước 
đầu đánh giá một số tác dụng phụ của thuốc cấy 
tránh thai sau cấy 6 tháng đầu” để đánh giá về 
các tác dụng phụ mà khách hàng gặp phải trong 6 
tháng đầu sử dụng.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả khách hàng đến cấy thuốc tránh thai 
Implanon NXT tại Trung tâm Tư vấn SKSS - KHHGĐ 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ 01/06/2017 
đến 31/08/2017. Khách hàng sẽ được theo dõi 
định kỳ sau khi cấy thuốc 3 tháng, 6 tháng (đến 
tháng 2 năm 2018).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu theo 
dõi dọc.
Các khách hàng cấy thuốc cấy tránh thai 
Implanon NXT, đồng ý tham gia nghiên cứu, được 
phát phiếu theo dõi sau khi cấy thuốc tránh thai.
Thông tin theo dõi bao gồm:
+ Biến chứng tại chỗ cấy thuốc: tím, sưng, đau.
+ Kinh nguyệt:
• Rong kinh: ra máu đúng chu kỳ nhưng kéo 
dài trên 7 ngày.
• Rong huyết: ra máu không đúng chu kỳ, kéo 
dài trên 7 ngày
• Vô kinh: không có kinh nguyệt trên 3 tháng 
với người có vòng kinh đều và trên 6 tháng với 
người có vòng kinh không đều.
• Kinh ít: lượng kinh ra ngắn ngày, chỉ thấm 
băng vệ sinh.
+ Cân nặng: thay đổi cân nặng của khách hàng 
sau khi cấy so với trước khi cấy.
+ Nổi mụn.
+ Khô âm đạo, giảm ham muốn.
+ Đau đầu; không sờ thấy thuốc cấy.
3. Kết quả và bàn luận
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Độ tuổi của khách hàng đến cấy 
thuốc cấy tránh thai trung bình là 32,3 tuổi. Tỷ lệ 
khách hàng trong độ tuổi 25 đến 34 là chủ yếu 
(65,9%) vì đây là độ tuổi sinh đẻ chính. Khách 
hàng lớn nhất là 43 tuổi. Kết quả này cũng tương 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 117 - 121, 2018
119
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Đặc điểm của đối tượng Số người Tỷ lệ %
Tuổi
≤ 24 5 4,2
25 – 29 23 19,1
30 – 34 56 46,7
35 – 39 30 25,0
≥ 40 6 5,0
Số con
1 15 12,5
2 82 68,3
≥ 3 23 19,2
Cách đẻ
Đẻ thường 55 45,8
Mổ lấy thai 65 54,2
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
đương với nghiên cứu của Asmah Mastor và cs tại 
Malaysia là 34,7 tuổi [3]. Trong nghiên cứu của 
Đoàn Thị Ái thì độ tuổi trung bình là 29,68 [2]. 
Đối tượng nghiên cứu của Amanda Smith và cs có 
độ tuổi trung bình là 24 tuổi [3]. Sự khác biệt này 
theo chúng tôi là do địa điểm và thời gian nghiên 
cứu khác nhau. 
Tỷ lệ khách hàng dùng biện pháp cấy thuốc 
cấy tránh thai chủ yếu là đã có đủ con, chiếm tỷ 
lệ 87,5%. Điều này cũng tương ứng với nghiên cứu 
của Đoàn Thị Ái với tỷ lệ khách hàng đủ con là 
80% [2]. Nghiên cứu của Asmah Mastor và cs cũng 
cho thấy khách hàng đủ con chiếm tỷ lệ chủ yếu 
[4]. Đây là đối tượng đã đủ con, có nhu cầu tránh 
thai thực sự.
Khách hàng có tiền sử mổ lấy thai sử dụng biện 
pháp tránh thai này chiếm tỷ lệ cao hơn. 55,2%. 
Khách hàng đẻ đường âm đạo chiếm tỷ lệ 47,8%.
3.2. Các biện pháp tránh thai được sử 
dụng trước lần cấy thuốc này
Nhận xét: Tỷ lệ khách hàng sử dụng biện pháp 
tránh thai truyền thống (xuất tinh ngoài âm đạo, 
tính ngày tránh thai, vô kinh cho con bú) chiếm tỷ 
lệ cao nhất, 35,0%, kết quả này tương đồng với 
nghiên cứu của Đoàn Thị Ái [2]. Đây là biện pháp 
tránh thai không được khuyến khích vì tỷ lệ thất 
Biểu đồ 1. Biện pháp tránh thai đã sử dụng
6	
35
17.5
12
16.7 18.3
0
5
10
15
20
25
30
35
40
Truyền	thống Bao	cao	su Dụng	cụ	tử	
cung
Thuốc	uống	
tránh	thai
Thuốc	cấy	
tránh	thai
Tỷ
	lệ
	%
Các	biện	pháp	tránh	 thai
Biểu đồ 1. Biện pháp tránh thai đã sử dụng 
Nhận xét: Tỷ lệ khách hàng sử dụng biện pháp tránh thai truyền thống (xuất tinh ngoài 
âm đạo, ính ngày tránh thai, vô kinh cho con bú) chiếm tỷ lệ cao nhất, 35,0%, kết quả 
này tương đồng với nghiên cứu củ Đoàn Thị Ái [2]. Đây là biện pháp tránh thai không 
được khuyến khích vì tỷ lệ thất bại cao. Tỷ lệ khách hàng từng sử dụng thuốc cấy tránh 
thai nay sử dụng lại chiếm tỷ lệ 18,3%. Điều này cho thấy có một tỷ lệ nhất định khách 
hàng tin tưởng biện pháp tránh thai này sau khi đã sử dụng. 
3.3. Kinh nguyệt trước và sau khi cấy thuốc cấy tránh thai 
Bảng 2. Lượng kinh của khách hàng trước và sau khi cấy 
Kinh nguyệt Trước cấy (n = 120) Sau cấy (n = 120) 
n % n % 
Bình thường 74 61,8 4 3,3 
Ít 23 19,1 35 29,2 
Nhiều 23 19,1 0 0 
Vô kinh 0 0 51 42,5 
Rong kinh, rong huyết 0 0 30 25,0 
Nhận xét: 
Trước khi sử dụng thuốc cấy tránh thai, tỷ lệ khách hàng có lượng kinh bình 
thường trong 1 kỳ kinh chiếm tỷ lệ 61,8%. Lượng kinh ít và nhiều có tỷ lệ tương đương 
bại cao. Tỷ lệ khách hàng từng sử dụng thuốc cấy 
tránh thai nay sử dụng lại chiếm tỷ lệ 18,3%. Điều 
này cho thấy có một tỷ lệ nhất định khách hàng tin 
tưởng biện pháp tránh thai này sau khi đã sử dụng.
3.3. Kinh nguyệt trước và sau khi cấy 
thuốc cấy tránh thai
Nhận xét: Trước khi sử dụng thuốc cấy tránh 
thai, tỷ lệ khách hàng có lượng kinh bình thường 
trong 1 kỳ kinh chiếm tỷ lệ 61,8%. Lượng kinh ít 
và nhiều có tỷ lệ tương đương nhau là 19,1%. 
Nghiên cứu của Đoàn Thị Ái cũng cho thấy tỷ lệ 
khách hàng có lượng kinh bình thường chiếm chủ 
yếu là 77,1% [2]. 
Sau khi cấy thuốc, tỷ lệ khách hàng vô kinh 
là chủ yếu, 42,5%. Lượng kinh nguyệt của khách 
hàng cũng giảm xuống so với lúc trước khi cấy 
thuốc. Tỷ lệ khách hàng kinh ít là 29,2%, kinh 
nhiều không có trường hợp nào. Kết quả này 
cũng tương đương với nghiên cứu của Gegzinc 
K. và cs khi tỷ lệ khách hàng vô kinh sau cấy 
thuốc là 41,25% [5]. Nghiên cứu của Đoàn Thị 
Ái cho thấy tỷ lệ khách hàng vô kinh là 29,2%, 
kinh nguyệt bình thường là 60,7% [2]. Sự khác 
biệt này có thể là do nghiên cứu của Đoàn Thị Ái 
thực hiện trong thời gian dài hơn nên kinh nguyệt 
của khách hàng đã trở lại ổn định.
Như vậy, chúng ta thấy rằng thuốc cấy tránh 
thai có tác dụng làm giảm lượng máu kinh cho 
khách hàng khi sử dụng. Tuy nhiên, việc không 
có kinh hay kinh ra ít cũng làm cho một số khách 
hàng cảm thấy lo lắng, sợ có bất thường do cấy 
thuốc. Vì vậy, chúng ta cần tư vấn kỹ cho khách 
hàng điều này là bình thường để khách hàng 
không lo lắng.
Tỷ lệ rong kinh rong huyết trong nghiên cứu của 
chúng tôi là 25%, cao hơn tỷ lệ trong nghiên cứu 
của Đoàn Thị Ái (10,1%) [2].
3.4. Điều trị rối loạn kinh nguyệt
Nhận xét: Số khách hàng phải điều trị do bất 
Kinh nguyệt
Trước cấy (n = 120) Sau cấy (n = 120)
n % n %
Bình thường 74 61,8 4 3,3
Ít 23 19,1 35 29,2
Nhiều 23 19,1 0 0
Vô kinh 0 0 51 42,5
Rong kinh, rong huyết 0 0 30 25,0
Bảng 2. Lượng kinh của khách hàng trước và sau khi cấy
HÀ DUY TIẾN, ĐÀO VĂN THỤ, PHAN THÀNH NAM
120
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
Kinh nguyệt Số người
Điều trị Cách điều trị Kết quả
Có Không Thuốc Tư vấn Tốt Không 
Vô kinh 51 0 51 0 51 51 0
Kinh ít 35 0 35 0 35 35 0
Bình thường 4 0 4 0 4 4 0
Rong kinh 30 18 12 18 0 11 7
Bảng 3. Cách điều trị rối loạn kinh nguyệt sau cấy thuốc
thường về kinh nguyệt đều là do rong kinh rong 
huyết, 18 trường hợp trong tổng số 30 trường 
hợp. 12 trường hợp còn lại là khách hàng nhận 
thấy rong kinh rong huyết là vẫn có thể chấp nhận 
được. Các trường hợp được điều trị thuốc nội tiết 
(progynova, novynette, marvelon), thuốc cầm 
máu (transamine). Số đợt điều trị thường là 1-2 
đợt, có 2 trường hợp phải điều trị 4 đợt thuốc. Có 
11 trường hợp điều trị thành công, 7 trường hợp 
không thành công phải tháo thuốc cấy tránh thai 
do khách hàng không muốn tiếp tục điều trị, tỷ lệ 
5,9%, sớm nhất là sau 2 tháng.
3.5. Các tác dụng phụ khác xảy ra với 
khách hàng
Nhận xét: 
Tác dụng phụ hay gặp nhất là tại vị trí vết cấy, 
chiếm tỷ lệ 40,8%, thường là tím, sưng, đau tại vị 
trí cấy que. Những điều này sẽ mất đi sau khoảng 
2 tuần mà không cần điều trị gì, liên quan chủ yếu 
đến kỹ thuật cấy thuốc cấy tránh thai.
Sự thay đổi về cân nặng, chiếm tỷ lệ 32,5%, 
tăng cân chủ yếu là 1 - 3 kg, cá biệt có khách 
hàng tăng 10 kg sau 6 tháng cấy thuốc. Tuy 
nhiên, có 3 trường hợp bị sụt cân. Tỷ lệ tăng 
cân ≥ 5kg là 8,3%, tương đương với nghiên cứu 
của Pushpa B. và cs là 7,5% [6]. Việc thay đổi 
cân nặng này chưa có báo cáo nào cho thấy có 
sự liên quan đến cấy thuốc cấy tránh thai song 
được ghi nhận do khách hàng tăng cảm giác 
thèm ăn và ăn ngon hơn. Tuy nhiên, cũng có 1 
Tác dụng phụ
Không Có
Số người Tỷ lệ % Số người Tỷ lệ %
Thay đổi cân nặng (tăng, giảm cân) 81 67,4 39 32,6
Khô âm đạo 89 74,2 31 25,8
Giảm ham muốn 88 73,3 32 26,7
Tại vị trí cấy (tím, đau, sưng) 71 59,2 49 40,8
Nổi mụn (mặt, lưng, tay) 101 84,2 19 15,8
Nhức đầu 106 88,3 14 11,7
Buồn nôn 116 96,7 4 3,3
Triệu chứng khác 104 86,7 16 13,3
Bảng 4. Các tác dụng phụ khác xảy ra sau khi cấy thuốc
khách hàng đến tháo thuốc cấy vì tăng cân 8 kg 
sau 4 tháng. 
Tác dụng phụ khô âm đạo và giảm ham muốn 
tình dục cũng hay gặp với tỷ lệ 25,8%, 26,7%. Tuy 
nhiên, tác dụng phụ này vẫn được khách hàng 
chấp nhận và chưa có trường hợp nào phải đi 
tháo thuốc cấy.
Các tác dụng phụ khác (nổi mụn, nhức đầu, sạm 
da) chiếm tỷ lệ 10 – 15%. Đây cũng là những tác 
dụng phụ mà khách hàng có thể chấp nhận được, 
không phải tháo thuốc cấy. Qua nghiên cứu, phần 
lớn khách hàng đều quan tâm đến tác dụng chính 
là tránh thai và tính tiện lợi của biện pháp này. Các 
tác dụng phụ có thể xảy ra vẫn được khách hàng 
chấp nhận vì họ biết rằng mọi biết pháp tránh thai 
đều có những tác dụng không mong muốn (chỉ là 
ít hay nhiều) và họ chấp nhận được khi sử dụng. 
Có 1 trường hợp sau cấy thuốc bị nhiều tác dụng 
phụ kết hợp (vô kinh, tăng cân, nổi mụn, giảm ham 
muốn) phải đến tháo thuốc cấy.
Sau 6 tháng sử dụng, chưa có trường hợp nào 
mất dấu sự hiện diện của thuốc cấy tại vị trí cấy 
dưới da.
Nghiên cứu của Gezginc K. và cs về các tác 
dụng phụ cho thấy tỷ lệ các tác dụng phụ thấp 
hơn hẳn so với chúng tôi: nổi mụn 10%, giảm ham 
muốn 2,5%, đau đầu 3,75% [5]. Tỷ lệ nổi mụn trong 
nghiên cứu của Yildizbas B. và cs là 26,8%, cao gấp 
1,7% nghiên cứu của chúng tôi [7]. Sự khác biệt này 
có thể là do chủng tộc, cỡ mẫu, thời gian.
Nghiên cứu của Yildizbas B. và cs cho thấy tỷ lệ 
tháo Implanon là 19,5%, trong đó 6 trường hợp là 
ra máu bất thường, 1 trường hợp phải điều trị trầm 
cảm, 1 trường hợp tăng cân [7]. 
Tỷ lệ khách hàng tiếp tục sử dụng biện pháp 
tránh thai này sau 6 tháng là 92,5%. Tỷ lệ này 
tương đương với nghiên cứu của Pushpa Bhatia và 
cs tại Ấn Độ (92%) [6] và gần tương đương nghiên 
cứu của Amanda Smith và cs tại 2 trung tâm ở 
Anh là 88% [4]. Nghiên cứu của Asmah Mastor tại 
Malaysia không có trường hợp nào phải tháo thuốc 
cấy sau 6 tháng sử dụng [3].
4. Kết luận
Qua một thời gian nghiên cứu chúng tôi có một 
số nhận xét
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 117 - 121, 2018
121
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
• Thuốc cấy tránh thai Implanon là một biện 
pháp tránh thai tạm thời có hiệu quả cao.
• Thuốc cấy tránh thai làm giảm lượng máu 
kinh.
• Tỷ lệ rong kinh rong huyết là 25%. Tỷ lệ phải 
điều trị là 15% (18 trường hợp), điều trị thành công 
là 11 trường hợp, chiếm 61,1%, 7 trường hợp phải 
tháo thuốc.
• Các tác dụng phụ khác của thuốc cấy tránh 
thai là thay đổi cân nặng (32.5%), 2 trường hợp 
phải tháo thuốc. Tiếp đến là khô âm đạo và giảm 
ham muốn, chiếm tỷ lệ là 25,8% và 26,7%. Các tác 
dụng phụ này tuy tỷ lệ khá cao nhưng vẫn trong 
giới hạn khách hàng chấp nhận được.
• Tỷ lệ chấp nhận của khách hàng sau 6 tháng 
sử dụng là 92,5%.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Y tế. Thuốc cấy tránh thai, Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ 
chăm sóc sức khoẻ sinh sản, phần kế hoạch hoá gia đình và phá thai an 
toàn. 2017:39-44.
2. Đoàn Thị Ái. Nghiên cứu khả năng chấp nhận - Hiệu quả và tác dụng 
phụ của thuốc cấy tránh thai Implanon tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Luận văn tốt 
nghiệp Bác sỹ chuyên khoa cấp II, Đại học Y – Dược Huế. 2008.
3. Asmah Mastor, Si Lay Khaing, Siti Zawiah Omar. Users’ perspectives 
on Implanon in Malaysia, a multicultural Asian country. Open Access 
Journal of Contraception. 2011(2):79-84.
4. Amanda Smith, Simone Reuter. An assessment of the use of 
Implanon® in three community services. The Journal of Family Planning 
and Reproductive Healthcare. 2002; 28(4):193-6.
5. Gezginc K, Balci O, Karatayli R. Colakoglu MC. Contraceptive efficacy 
and side effect of Implanon®. Eur J Contracept Reprod Health Care. 2007 
Dec; 12(4):362-5.
6. Pushpa Bhatia, Sangita Nangia, Shivani Aggarwal and Chitra Tewari. 
Implanon: Subdermal single rod contraceptive implant. J Obstet Gynaecol 
India. 2011; 61(4):422-5.
7. Yildizbas B, Sahin HG, Kolusari A, Zeteroglu S, Kamaci M. Side effect 
and acceptability of Implanon. Eur J Contracept Reprod Health Care. 2007 
Sep; 12(3):248-52.

File đính kèm:

  • pdfbuoc_dau_danh_gia_mot_so_tac_dung_phu_cua_thuoc_cay_tranh_th.pdf