Bước đầu đánh giá một số tác dụng phụ của thuốc cấy tránh thai sau cấy 6 tháng đầu
Mục tiêu: Đánh giá một số tác dụng phụ của khách hàng sử dụng
thuốc cấy tránh thai trong 6 tháng đầu.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu 120 khách hàng đến
cấy thuốc cấy tránh thai tại Trung tâm Tư vấn sức khoẻ sinh sản – Kế
hoạch hoá gia đình (SKSS – KHHGĐ), bệnh viện Phụ sản Trung ương
từ 01/06/2017 đến 31/08/2017, theo dõi khách hàng trong thời gian 6
tháng đến 28/02/2018.
Kết quả: 4 khách hàng có kinh nguyệt bình thường (3,3%), 51 người
(42,5%) vô kinh, 25% rong kinh rong huyết. Tác dụng phụ thường gặp
nhất không liên quan đến kinh nguyệt là thay đổi cân nặng, chiếm
32,6%, tăng cân ít nhất là 1 kg, nhiều nhất là 10 kg, trên 5 kg là 8,3%.
Số khách hàng phải đến tháo thuốc cấy tránh thai trong 6 tháng đầu
chiếm tỷ lệ 7,5%, sớm nhất là sau 2 tháng. Tỷ lệ khách hàng tiếp tục sử
dụng sau 6 tháng là 92,5%.
Kết luận: Thuốc cấy tránh thai là một biện pháp tránh thai tạm thời đạt
hiệu quả cao, tỷ lệ hài lòng của khách hàng cao, tỷ lệ tác dụng phụ thấp
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bước đầu đánh giá một số tác dụng phụ của thuốc cấy tránh thai sau cấy 6 tháng đầu
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 117 - 121, 2018 117 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 Hà Duy Tiến, Đào Văn Thụ, Phan Thành Nam Bệnh viện Phụ Sản Trung ương BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TÁC DỤNG PHỤ CỦA THUỐC CẤY TRÁNH THAI SAU CẤY 6 THÁNG ĐẦU Tác giả liên hệ (Corresponding author): Phan Thành Nam, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 02/04/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 02/04/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 27/04/2018 Từ khóa: Thuốc cấy tránh thai, Implanon NXT, tác dụng phụ. Keywords: Contraceptives implant, Implanon, side effect. Tóm tắt Mục tiêu: Đánh giá một số tác dụng phụ của khách hàng sử dụng thuốc cấy tránh thai trong 6 tháng đầu. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu 120 khách hàng đến cấy thuốc cấy tránh thai tại Trung tâm Tư vấn sức khoẻ sinh sản – Kế hoạch hoá gia đình (SKSS – KHHGĐ), bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 01/06/2017 đến 31/08/2017, theo dõi khách hàng trong thời gian 6 tháng đến 28/02/2018. Kết quả: 4 khách hàng có kinh nguyệt bình thường (3,3%), 51 người (42,5%) vô kinh, 25% rong kinh rong huyết. Tác dụng phụ thường gặp nhất không liên quan đến kinh nguyệt là thay đổi cân nặng, chiếm 32,6%, tăng cân ít nhất là 1 kg, nhiều nhất là 10 kg, trên 5 kg là 8,3%. Số khách hàng phải đến tháo thuốc cấy tránh thai trong 6 tháng đầu chiếm tỷ lệ 7,5%, sớm nhất là sau 2 tháng. Tỷ lệ khách hàng tiếp tục sử dụng sau 6 tháng là 92,5%. Kết luận: Thuốc cấy tránh thai là một biện pháp tránh thai tạm thời đạt hiệu quả cao, tỷ lệ hài lòng của khách hàng cao, tỷ lệ tác dụng phụ thấp. Từ khoá: Thuốc cấy tránh thai, Implanon NXT, tác dụng phụ. Abstract PRELIMINARY SURVEY SIDE EFFECTS OF CONTRACEPTIVES IMPLANT AFTER IMPLANTING SIX MONTHS Objective: To assess side effects during the first 6 months of using Implanon. Methods: A prospective study involing 120 clients who have implantation in the centre for reproductive health consultation and family planning, National Hospital of Obstetrics and Gynecology from 1 June 2017 to 31 August 2017, followed up for six month to 28 Feb 2018. Result: Four of 120 customers had normal periods (3.3%), 51 (42.5%) were amenorrhoeic and 25% were menorrhagia or hemorrhage. The HÀ DUY TIẾN, ĐÀO VĂN THỤ, PHAN THÀNH NAM 118 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 P H Ụ K H O A most common non-menstrual side effect was weight changes (32.6%), gain from 1 to 10 kg, ≥ 5 kg was 8.3%. During the study period, Implanon was removed by 9 patients (7.5%), the earliest was after 2 months. 92.5% of cases continued using Implanon after 6 months. Conclusions: Contraceptives implant is a highly cost-effective long-term reversible contraception, the high rate of clients’ satisfaction, the low rate of side effect. Keywords: Contraceptives implant, Implanon, side effect. 1. Đặt vấn đề Thuốc cấy tránh thai là một biện pháp tránh thai tạm thời có chứa progestin, gồm loại 1 nang cấy, chứa 68 mg lenorvogestrel (Implanon NXT) và loại 2 nang cấy, mỗi nang chứa 75 mg etonogestrel (Femplant). Đây là biện pháp tránh thai có hiệu quả cao, có nhiều ưu điểm nhưng cũng có một số tác dụng phụ không mong muốn [1]. Theo Đoàn Thị Ái năm 2000, Trần Thị Phương Mai đã tiến hành nghiên cứu đánh giá về hiệu quả, tác dụng phụ của thuốc cấy tránh thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương [2]. Hiện nay, Trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản và kế hoạch gia đình (SKSS – KHHGĐ) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, khách hàng lựa chọn thuốc cấy tránh thai Implanon NXT ngày càng tăng lên, từ 308 trường hợp năm 2014 đến năm 2017 là 407 trường hợp. Điều này cho thấy thuốc cấy tránh thai có nhiều ưu điểm và thêm một sự lựa chọn cho khách hàng. Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận thấy có một tỷ lệ nhỏ khách hàng cảm thấy rắc rối vì gặp phải một số tác dụng phụ khi sử dụng. Những tác dụng phụ này thường gặp trong 6 tháng đầu. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Bước đầu đánh giá một số tác dụng phụ của thuốc cấy tránh thai sau cấy 6 tháng đầu” để đánh giá về các tác dụng phụ mà khách hàng gặp phải trong 6 tháng đầu sử dụng. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Tất cả khách hàng đến cấy thuốc tránh thai Implanon NXT tại Trung tâm Tư vấn SKSS - KHHGĐ Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ 01/06/2017 đến 31/08/2017. Khách hàng sẽ được theo dõi định kỳ sau khi cấy thuốc 3 tháng, 6 tháng (đến tháng 2 năm 2018). 2.2. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc. Các khách hàng cấy thuốc cấy tránh thai Implanon NXT, đồng ý tham gia nghiên cứu, được phát phiếu theo dõi sau khi cấy thuốc tránh thai. Thông tin theo dõi bao gồm: + Biến chứng tại chỗ cấy thuốc: tím, sưng, đau. + Kinh nguyệt: • Rong kinh: ra máu đúng chu kỳ nhưng kéo dài trên 7 ngày. • Rong huyết: ra máu không đúng chu kỳ, kéo dài trên 7 ngày • Vô kinh: không có kinh nguyệt trên 3 tháng với người có vòng kinh đều và trên 6 tháng với người có vòng kinh không đều. • Kinh ít: lượng kinh ra ngắn ngày, chỉ thấm băng vệ sinh. + Cân nặng: thay đổi cân nặng của khách hàng sau khi cấy so với trước khi cấy. + Nổi mụn. + Khô âm đạo, giảm ham muốn. + Đau đầu; không sờ thấy thuốc cấy. 3. Kết quả và bàn luận 3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Nhận xét: Độ tuổi của khách hàng đến cấy thuốc cấy tránh thai trung bình là 32,3 tuổi. Tỷ lệ khách hàng trong độ tuổi 25 đến 34 là chủ yếu (65,9%) vì đây là độ tuổi sinh đẻ chính. Khách hàng lớn nhất là 43 tuổi. Kết quả này cũng tương TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 117 - 121, 2018 119 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 Đặc điểm của đối tượng Số người Tỷ lệ % Tuổi ≤ 24 5 4,2 25 – 29 23 19,1 30 – 34 56 46,7 35 – 39 30 25,0 ≥ 40 6 5,0 Số con 1 15 12,5 2 82 68,3 ≥ 3 23 19,2 Cách đẻ Đẻ thường 55 45,8 Mổ lấy thai 65 54,2 Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu đương với nghiên cứu của Asmah Mastor và cs tại Malaysia là 34,7 tuổi [3]. Trong nghiên cứu của Đoàn Thị Ái thì độ tuổi trung bình là 29,68 [2]. Đối tượng nghiên cứu của Amanda Smith và cs có độ tuổi trung bình là 24 tuổi [3]. Sự khác biệt này theo chúng tôi là do địa điểm và thời gian nghiên cứu khác nhau. Tỷ lệ khách hàng dùng biện pháp cấy thuốc cấy tránh thai chủ yếu là đã có đủ con, chiếm tỷ lệ 87,5%. Điều này cũng tương ứng với nghiên cứu của Đoàn Thị Ái với tỷ lệ khách hàng đủ con là 80% [2]. Nghiên cứu của Asmah Mastor và cs cũng cho thấy khách hàng đủ con chiếm tỷ lệ chủ yếu [4]. Đây là đối tượng đã đủ con, có nhu cầu tránh thai thực sự. Khách hàng có tiền sử mổ lấy thai sử dụng biện pháp tránh thai này chiếm tỷ lệ cao hơn. 55,2%. Khách hàng đẻ đường âm đạo chiếm tỷ lệ 47,8%. 3.2. Các biện pháp tránh thai được sử dụng trước lần cấy thuốc này Nhận xét: Tỷ lệ khách hàng sử dụng biện pháp tránh thai truyền thống (xuất tinh ngoài âm đạo, tính ngày tránh thai, vô kinh cho con bú) chiếm tỷ lệ cao nhất, 35,0%, kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Đoàn Thị Ái [2]. Đây là biện pháp tránh thai không được khuyến khích vì tỷ lệ thất Biểu đồ 1. Biện pháp tránh thai đã sử dụng 6 35 17.5 12 16.7 18.3 0 5 10 15 20 25 30 35 40 Truyền thống Bao cao su Dụng cụ tử cung Thuốc uống tránh thai Thuốc cấy tránh thai Tỷ lệ % Các biện pháp tránh thai Biểu đồ 1. Biện pháp tránh thai đã sử dụng Nhận xét: Tỷ lệ khách hàng sử dụng biện pháp tránh thai truyền thống (xuất tinh ngoài âm đạo, ính ngày tránh thai, vô kinh cho con bú) chiếm tỷ lệ cao nhất, 35,0%, kết quả này tương đồng với nghiên cứu củ Đoàn Thị Ái [2]. Đây là biện pháp tránh thai không được khuyến khích vì tỷ lệ thất bại cao. Tỷ lệ khách hàng từng sử dụng thuốc cấy tránh thai nay sử dụng lại chiếm tỷ lệ 18,3%. Điều này cho thấy có một tỷ lệ nhất định khách hàng tin tưởng biện pháp tránh thai này sau khi đã sử dụng. 3.3. Kinh nguyệt trước và sau khi cấy thuốc cấy tránh thai Bảng 2. Lượng kinh của khách hàng trước và sau khi cấy Kinh nguyệt Trước cấy (n = 120) Sau cấy (n = 120) n % n % Bình thường 74 61,8 4 3,3 Ít 23 19,1 35 29,2 Nhiều 23 19,1 0 0 Vô kinh 0 0 51 42,5 Rong kinh, rong huyết 0 0 30 25,0 Nhận xét: Trước khi sử dụng thuốc cấy tránh thai, tỷ lệ khách hàng có lượng kinh bình thường trong 1 kỳ kinh chiếm tỷ lệ 61,8%. Lượng kinh ít và nhiều có tỷ lệ tương đương bại cao. Tỷ lệ khách hàng từng sử dụng thuốc cấy tránh thai nay sử dụng lại chiếm tỷ lệ 18,3%. Điều này cho thấy có một tỷ lệ nhất định khách hàng tin tưởng biện pháp tránh thai này sau khi đã sử dụng. 3.3. Kinh nguyệt trước và sau khi cấy thuốc cấy tránh thai Nhận xét: Trước khi sử dụng thuốc cấy tránh thai, tỷ lệ khách hàng có lượng kinh bình thường trong 1 kỳ kinh chiếm tỷ lệ 61,8%. Lượng kinh ít và nhiều có tỷ lệ tương đương nhau là 19,1%. Nghiên cứu của Đoàn Thị Ái cũng cho thấy tỷ lệ khách hàng có lượng kinh bình thường chiếm chủ yếu là 77,1% [2]. Sau khi cấy thuốc, tỷ lệ khách hàng vô kinh là chủ yếu, 42,5%. Lượng kinh nguyệt của khách hàng cũng giảm xuống so với lúc trước khi cấy thuốc. Tỷ lệ khách hàng kinh ít là 29,2%, kinh nhiều không có trường hợp nào. Kết quả này cũng tương đương với nghiên cứu của Gegzinc K. và cs khi tỷ lệ khách hàng vô kinh sau cấy thuốc là 41,25% [5]. Nghiên cứu của Đoàn Thị Ái cho thấy tỷ lệ khách hàng vô kinh là 29,2%, kinh nguyệt bình thường là 60,7% [2]. Sự khác biệt này có thể là do nghiên cứu của Đoàn Thị Ái thực hiện trong thời gian dài hơn nên kinh nguyệt của khách hàng đã trở lại ổn định. Như vậy, chúng ta thấy rằng thuốc cấy tránh thai có tác dụng làm giảm lượng máu kinh cho khách hàng khi sử dụng. Tuy nhiên, việc không có kinh hay kinh ra ít cũng làm cho một số khách hàng cảm thấy lo lắng, sợ có bất thường do cấy thuốc. Vì vậy, chúng ta cần tư vấn kỹ cho khách hàng điều này là bình thường để khách hàng không lo lắng. Tỷ lệ rong kinh rong huyết trong nghiên cứu của chúng tôi là 25%, cao hơn tỷ lệ trong nghiên cứu của Đoàn Thị Ái (10,1%) [2]. 3.4. Điều trị rối loạn kinh nguyệt Nhận xét: Số khách hàng phải điều trị do bất Kinh nguyệt Trước cấy (n = 120) Sau cấy (n = 120) n % n % Bình thường 74 61,8 4 3,3 Ít 23 19,1 35 29,2 Nhiều 23 19,1 0 0 Vô kinh 0 0 51 42,5 Rong kinh, rong huyết 0 0 30 25,0 Bảng 2. Lượng kinh của khách hàng trước và sau khi cấy HÀ DUY TIẾN, ĐÀO VĂN THỤ, PHAN THÀNH NAM 120 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 P H Ụ K H O A Kinh nguyệt Số người Điều trị Cách điều trị Kết quả Có Không Thuốc Tư vấn Tốt Không Vô kinh 51 0 51 0 51 51 0 Kinh ít 35 0 35 0 35 35 0 Bình thường 4 0 4 0 4 4 0 Rong kinh 30 18 12 18 0 11 7 Bảng 3. Cách điều trị rối loạn kinh nguyệt sau cấy thuốc thường về kinh nguyệt đều là do rong kinh rong huyết, 18 trường hợp trong tổng số 30 trường hợp. 12 trường hợp còn lại là khách hàng nhận thấy rong kinh rong huyết là vẫn có thể chấp nhận được. Các trường hợp được điều trị thuốc nội tiết (progynova, novynette, marvelon), thuốc cầm máu (transamine). Số đợt điều trị thường là 1-2 đợt, có 2 trường hợp phải điều trị 4 đợt thuốc. Có 11 trường hợp điều trị thành công, 7 trường hợp không thành công phải tháo thuốc cấy tránh thai do khách hàng không muốn tiếp tục điều trị, tỷ lệ 5,9%, sớm nhất là sau 2 tháng. 3.5. Các tác dụng phụ khác xảy ra với khách hàng Nhận xét: Tác dụng phụ hay gặp nhất là tại vị trí vết cấy, chiếm tỷ lệ 40,8%, thường là tím, sưng, đau tại vị trí cấy que. Những điều này sẽ mất đi sau khoảng 2 tuần mà không cần điều trị gì, liên quan chủ yếu đến kỹ thuật cấy thuốc cấy tránh thai. Sự thay đổi về cân nặng, chiếm tỷ lệ 32,5%, tăng cân chủ yếu là 1 - 3 kg, cá biệt có khách hàng tăng 10 kg sau 6 tháng cấy thuốc. Tuy nhiên, có 3 trường hợp bị sụt cân. Tỷ lệ tăng cân ≥ 5kg là 8,3%, tương đương với nghiên cứu của Pushpa B. và cs là 7,5% [6]. Việc thay đổi cân nặng này chưa có báo cáo nào cho thấy có sự liên quan đến cấy thuốc cấy tránh thai song được ghi nhận do khách hàng tăng cảm giác thèm ăn và ăn ngon hơn. Tuy nhiên, cũng có 1 Tác dụng phụ Không Có Số người Tỷ lệ % Số người Tỷ lệ % Thay đổi cân nặng (tăng, giảm cân) 81 67,4 39 32,6 Khô âm đạo 89 74,2 31 25,8 Giảm ham muốn 88 73,3 32 26,7 Tại vị trí cấy (tím, đau, sưng) 71 59,2 49 40,8 Nổi mụn (mặt, lưng, tay) 101 84,2 19 15,8 Nhức đầu 106 88,3 14 11,7 Buồn nôn 116 96,7 4 3,3 Triệu chứng khác 104 86,7 16 13,3 Bảng 4. Các tác dụng phụ khác xảy ra sau khi cấy thuốc khách hàng đến tháo thuốc cấy vì tăng cân 8 kg sau 4 tháng. Tác dụng phụ khô âm đạo và giảm ham muốn tình dục cũng hay gặp với tỷ lệ 25,8%, 26,7%. Tuy nhiên, tác dụng phụ này vẫn được khách hàng chấp nhận và chưa có trường hợp nào phải đi tháo thuốc cấy. Các tác dụng phụ khác (nổi mụn, nhức đầu, sạm da) chiếm tỷ lệ 10 – 15%. Đây cũng là những tác dụng phụ mà khách hàng có thể chấp nhận được, không phải tháo thuốc cấy. Qua nghiên cứu, phần lớn khách hàng đều quan tâm đến tác dụng chính là tránh thai và tính tiện lợi của biện pháp này. Các tác dụng phụ có thể xảy ra vẫn được khách hàng chấp nhận vì họ biết rằng mọi biết pháp tránh thai đều có những tác dụng không mong muốn (chỉ là ít hay nhiều) và họ chấp nhận được khi sử dụng. Có 1 trường hợp sau cấy thuốc bị nhiều tác dụng phụ kết hợp (vô kinh, tăng cân, nổi mụn, giảm ham muốn) phải đến tháo thuốc cấy. Sau 6 tháng sử dụng, chưa có trường hợp nào mất dấu sự hiện diện của thuốc cấy tại vị trí cấy dưới da. Nghiên cứu của Gezginc K. và cs về các tác dụng phụ cho thấy tỷ lệ các tác dụng phụ thấp hơn hẳn so với chúng tôi: nổi mụn 10%, giảm ham muốn 2,5%, đau đầu 3,75% [5]. Tỷ lệ nổi mụn trong nghiên cứu của Yildizbas B. và cs là 26,8%, cao gấp 1,7% nghiên cứu của chúng tôi [7]. Sự khác biệt này có thể là do chủng tộc, cỡ mẫu, thời gian. Nghiên cứu của Yildizbas B. và cs cho thấy tỷ lệ tháo Implanon là 19,5%, trong đó 6 trường hợp là ra máu bất thường, 1 trường hợp phải điều trị trầm cảm, 1 trường hợp tăng cân [7]. Tỷ lệ khách hàng tiếp tục sử dụng biện pháp tránh thai này sau 6 tháng là 92,5%. Tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu của Pushpa Bhatia và cs tại Ấn Độ (92%) [6] và gần tương đương nghiên cứu của Amanda Smith và cs tại 2 trung tâm ở Anh là 88% [4]. Nghiên cứu của Asmah Mastor tại Malaysia không có trường hợp nào phải tháo thuốc cấy sau 6 tháng sử dụng [3]. 4. Kết luận Qua một thời gian nghiên cứu chúng tôi có một số nhận xét TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 117 - 121, 2018 121 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 • Thuốc cấy tránh thai Implanon là một biện pháp tránh thai tạm thời có hiệu quả cao. • Thuốc cấy tránh thai làm giảm lượng máu kinh. • Tỷ lệ rong kinh rong huyết là 25%. Tỷ lệ phải điều trị là 15% (18 trường hợp), điều trị thành công là 11 trường hợp, chiếm 61,1%, 7 trường hợp phải tháo thuốc. • Các tác dụng phụ khác của thuốc cấy tránh thai là thay đổi cân nặng (32.5%), 2 trường hợp phải tháo thuốc. Tiếp đến là khô âm đạo và giảm ham muốn, chiếm tỷ lệ là 25,8% và 26,7%. Các tác dụng phụ này tuy tỷ lệ khá cao nhưng vẫn trong giới hạn khách hàng chấp nhận được. • Tỷ lệ chấp nhận của khách hàng sau 6 tháng sử dụng là 92,5%. Tài liệu tham khảo 1. Bộ Y tế. Thuốc cấy tránh thai, Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, phần kế hoạch hoá gia đình và phá thai an toàn. 2017:39-44. 2. Đoàn Thị Ái. Nghiên cứu khả năng chấp nhận - Hiệu quả và tác dụng phụ của thuốc cấy tránh thai Implanon tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ chuyên khoa cấp II, Đại học Y – Dược Huế. 2008. 3. Asmah Mastor, Si Lay Khaing, Siti Zawiah Omar. Users’ perspectives on Implanon in Malaysia, a multicultural Asian country. Open Access Journal of Contraception. 2011(2):79-84. 4. Amanda Smith, Simone Reuter. An assessment of the use of Implanon® in three community services. The Journal of Family Planning and Reproductive Healthcare. 2002; 28(4):193-6. 5. Gezginc K, Balci O, Karatayli R. Colakoglu MC. Contraceptive efficacy and side effect of Implanon®. Eur J Contracept Reprod Health Care. 2007 Dec; 12(4):362-5. 6. Pushpa Bhatia, Sangita Nangia, Shivani Aggarwal and Chitra Tewari. Implanon: Subdermal single rod contraceptive implant. J Obstet Gynaecol India. 2011; 61(4):422-5. 7. Yildizbas B, Sahin HG, Kolusari A, Zeteroglu S, Kamaci M. Side effect and acceptability of Implanon. Eur J Contracept Reprod Health Care. 2007 Sep; 12(3):248-52.
File đính kèm:
buoc_dau_danh_gia_mot_so_tac_dung_phu_cua_thuoc_cay_tranh_th.pdf

