Bước đầu đánh giá kết quả phương pháp nuôi dưỡng trẻ sinh non nhẹ cân bằng cho ăn sớm tại trung tâm chăm sóc và điều trị sơ sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017

Sơ sinh non tháng nhẹ cân là một trong những vấn đề sức khỏe cộng

đồng, đồng thời cũng là nguyên nhân chính của tử vong sơ sinh. Cho trẻ

sinh non ăn sớm sẽ giúp trẻ đạt được dinh dưỡng đầy đủ nhanh hơn, giảm

nuôi dưỡng tĩnh mạch, giảm thời gian nằm viện. Nghiên cứu thực hiện với.

Mục tiêu: Bước đầu đánh giá kết quả phương pháp nuôi dưỡng trẻ sinh

non nhẹ cân bằng cho ăn sớm tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị sơ sinh

Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017.

Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp không đối chứng trên 452 trẻ sinh

non tại Trung tâm CS&ĐT Sơ sinh, cân nặng ≤ 1000gram; không có khuyết

tật, dị tật, bệnh lý, được nuôi dưỡng theo quy trình cho trẻ sinh non, nhẹ cân

ăn sớm.

Kết quả: Tỉ lệ trẻ sống ra viện là 26,6%; trẻ sống được 15-30 ngày chiếm

5,4%; trẻ được nuôi dưỡng lên cân tốt, có phản xạ bú tốt, được về với mẹ,

chiếm 24,7%. Trẻ có cân nặng ở các mức 500-700g, 701-900g, 901-1000g

có tỉ lệ sống ra viện tăng dần lên, lần lượt là 24,7%; 29,9%; 31,2%; tỉ lệ trẻ

nôn trớ là 13,2%; tỉ lệ trẻ chướng bụng là 4,9%.

Kết luận: phương pháp nuôi dưỡng trẻ sinh non nhẹ cân bằng cho ăn

sớm tại Trung tâm CS&ĐT sơ sinh bước đầu đã đạt những thành tựu lớn

trong việc cứu sống và nuôi dưỡng trẻ

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Bước đầu đánh giá kết quả phương pháp nuôi dưỡng trẻ sinh non nhẹ cân bằng cho ăn sớm tại trung tâm chăm sóc và điều trị sơ sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bước đầu đánh giá kết quả phương pháp nuôi dưỡng trẻ sinh non nhẹ cân bằng cho ăn sớm tại trung tâm chăm sóc và điều trị sơ sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017

Bước đầu đánh giá kết quả phương pháp nuôi dưỡng trẻ sinh non nhẹ cân bằng cho ăn sớm tại trung tâm chăm sóc và điều trị sơ sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 97 - 101, 2018
97
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Nguyễn Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Thái Thị Liên Phương 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ PHƯƠNG PHÁP NUÔI DƯỠNG
TRẺ SINH NON NHẸ CÂN BẰNG CHO ĂN SỚM
TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC VÀ ĐIỀU TRỊ SƠ SINH 
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2017
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Thanh Tâm, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: trẻ sinh non, nhẹ cân, 
nuôi dưỡng, ăn sớm.
Keywords: low birth weight, 
preterm baby, nutrition, early 
feeding.
Tóm tắt
Sơ sinh non tháng nhẹ cân là một trong những vấn đề sức khỏe cộng 
đồng, đồng thời cũng là nguyên nhân chính của tử vong sơ sinh. Cho trẻ 
sinh non ăn sớm sẽ giúp trẻ đạt được dinh dưỡng đầy đủ nhanh hơn, giảm 
nuôi dưỡng tĩnh mạch, giảm thời gian nằm viện. Nghiên cứu thực hiện với. 
Mục tiêu: Bước đầu đánh giá kết quả phương pháp nuôi dưỡng trẻ sinh 
non nhẹ cân bằng cho ăn sớm tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị sơ sinh 
Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017. 
Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp không đối chứng trên 452 trẻ sinh 
non tại Trung tâm CS&ĐT Sơ sinh, cân nặng ≤ 1000gram; không có khuyết 
tật, dị tật, bệnh lý, được nuôi dưỡng theo quy trình cho trẻ sinh non, nhẹ cân 
ăn sớm. 
Kết quả: Tỉ lệ trẻ sống ra viện là 26,6%; trẻ sống được 15-30 ngày chiếm 
5,4%; trẻ được nuôi dưỡng lên cân tốt, có phản xạ bú tốt, được về với mẹ, 
chiếm 24,7%. Trẻ có cân nặng ở các mức 500-700g, 701-900g, 901-1000g 
có tỉ lệ sống ra viện tăng dần lên, lần lượt là 24,7%; 29,9%; 31,2%; tỉ lệ trẻ 
nôn trớ là 13,2%; tỉ lệ trẻ chướng bụng là 4,9%. 
Kết luận: phương pháp nuôi dưỡng trẻ sinh non nhẹ cân bằng cho ăn 
sớm tại Trung tâm CS&ĐT sơ sinh bước đầu đã đạt những thành tựu lớn 
trong việc cứu sống và nuôi dưỡng trẻ.
Từ khóa: trẻ sinh non, nhẹ cân, nuôi dưỡng, ăn sớm.
Abstract 
 PRELIMINARY EVALUATION OF THE RESULTS 
OF EARLY FEEDING LOW BIRTH WEIGHT PRETERM 
BABY AT CENTRE NEONATAL CARE IN NATIONAL 
HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY 2017 
Preterm baby with and low birth weight is one of the public health 
problems and is the main cause of neonatal mortality. Early prenatal 
feeding will help preterm baby achieve fuller nutrition faster, reduce 
intravenous feeding, reduce hospitalization time. 
NGUYỄN THANH THỦY, NGUYỄN THỊ THANH TÂM, THÁI THỊ LIÊN PHƯƠNG
98
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
1. Đặt vấn đề
Sơ sinh non tháng và nhẹ cân là một trong những 
vấn đề sức khỏe cộng đồng ở các nước đang phát 
triển và đã phát triển, đồng thời là nguyên nhân 
chính của tử vong sơ sinh. Trẻ sinh non sẽ gây nhiều 
hậu quả trước mắt và lâu dài về phát triển thể chất 
và tinh thần. Dinh dưỡng của trẻ sơ sinh non tháng 
sẽ dẫn đến sự phát triển tương tự như phôi thai đang 
phát triển bình thường ở cùng độ tuổi thai [1].
Cho trẻ sinh non ăn sớm sẽ giúp trẻ đạt được 
dinh dưỡng đầy đủ nhanh hơn, giảm nuôi dưỡng 
tĩnh mạch, giảm thời gian nằm viện, lấy lại cân nặng 
nhanh hơn, không làm tăng nguy cơ bất dung nạp 
thức ăn [2],[3]. Sự phát triển của trẻ sinh thiếu tháng 
phụ thuộc rất nhiều vào sự chăm sóc, nuôi dưỡng và 
điều kiện môi trường xung quanh ngay từ phút đầu 
sau khi ra đời. Hậu quả của dinh dưỡng kém bao 
gồm: Chậm tăng trưởng lâu dài, thúc đẩy loạn sản 
phổi, chậm phát triển tâm vận động, tăng biến chứng 
sinh non, bệnh suất cao, kết cục lâu dài bất lợi [4]. 
Tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, phương pháp 
nuôi dưỡng trẻ sinh non, nhẹ cân đã được áp dụng 
và thành công nhiều trường hợp dưới 1000 gram, 
đặc biệt năm 2015 đã áp dụng thành công trẻ sinh 
non nặng 500 gram đến nay cháu vẫn được theo 
dõi và phát triền bình thường. Để đạt được thành 
công nhiều hơn nữa, năm 2016, Trung tâm Chăm 
sóc và Điều trị sơ sinh phối hợp phòng Điều dưỡng 
xây dựng quy trình “nuôi dưỡng trẻ sinh non nhẹ cân 
bằng phương pháp cho ăn sớm”, quy trình này đã 
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Objectives: To initially evaluate the results of early feeding methods for preterm infants feeding at 
the Center for Neonatal Care in the National Hospital of Obstetrics and Gynecology in 2017. 
Methods: evidence of 452 preterm babies at the Center for Neonatal Care, weighing not over 
1000gram; No defects, deformities, pathology, nourishment according to the process for premature, 
lightweight early feeding in the center. 
Results: The rate of preterm infants survive and be closed to mothers was 26.6%; living 15-30 
days is 5.4%, raising on good weight, have good reflex feeding, can return to the mother, accounting 
for 24.7%. Preterm baby weight 500-700g, 701-900g, 901-1000g increased survival rate, up 24.7%; 
29.9%; 31.2%; the rate of vomiting is 13.2%; the rate of pedophilia is 4.9%. 
Conclusion: Early feeding methods for low birth weight preterm baby at neonatal intensive care and 
care centers have made significant progress in saving and nursing infants with extremely low birth weight.
Keywords: low birth weight, preterm baby, nutrition, early feeding.
được áp dụng tại Trung tâm từ tháng 1 năm 2017, 
tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá kết quả 
của phương pháp này. Do vậy, chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu “Bước đầu đánh giá kết quả nuôi dưỡng 
trẻ sinh non nhẹ cân bằng phương pháp cho ăn sớm 
tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị sơ sinh - Bệnh 
viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 01 đến tháng 9 
năm 2017” với. Mục tiêu: Bước đầu đánh giá kết 
quả nuôi dưỡng trẻ sinh non nhẹ cân bằng phương 
pháp cho ăn sớm tại Trung tâm chăm sóc và điều trị 
sơ sinh Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu 
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Trẻ sinh non tại Trung tâm Chăm sóc và điều 
trị Sơ sinh
- Cân nặng ≤ 1000gram
- Không có khuyết tật, dị tật, bệnh lý (tắc ruột,)
- Được nuôi dưỡng theo quy trình cho trẻ sinh 
non, nhẹ cân ăn sớm tại Trung tâm.
Tiêu chuẩn loại trừ: trẻ không thỏa mãn ít nhất 
một tiêu chí lựa chọn trên.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ 
tháng 01 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017 tại 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. 
Số liệu được thu thập từ tháng 01 đến tháng 9 
năm 2017.
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 97 - 101, 2018
99
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
2.3. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp không đối chứng.
2.4. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Lấy mẫu toàn bộ những trẻ sinh non nhẹ cân đủ 
tiêu chuẩn lựa chọn tại Trung tâm Chăm sóc và Điều 
trị Sơ sinh từ tháng 01 đến hết tháng 9 năm 2017
Như vậy cỡ mẫu có là 452 trẻ.
2.5. Phương pháp thu thập số liệu
Bước 1: Lựa chọn đối tượng nghiên cứu ngay 
sau khi đẻ, trẻ được chuyển xuống Trung tâm 
Chăm sóc và điều trị Sơ sinh theo các tiêu chí lựa 
chọn ở trên.
Bước 2: Đánh giá tình trạng trẻ, lập kế hoạch 
cho ăn sớm nhất có thể (theo quy trình cho ăn 
sớm). Tận dụng từng giọt sữa non của mẹ, trong 
trường hợp mẹ chưa có sữa hoặc bệnh lý thì thay 
thế bằng sữa công thức, sữa non dành cho trẻ non 
tháng, nhẹ cân để cho trẻ ăn sớm. 
Bước 3: Theo dõi chỉ số hàng ngày của trẻ: Cân 
nặng (gram), lượng sữa ăn của trẻ/bữa (ml), số bữa 
ăn/ngày, số lần nôn trớ/ngày, màu sắc dịch nôn 
trớ, vòng bụng (2 thời điểm: trước bữa ăn; ngay sau 
ăn, đơn vị đo: mm) thời gian tử vong (nếu có)
3. Kết quả và bàn luận
Nghiên cứu thu thập được 452 đối tượng nghiên 
cứu (ĐTNC). Từ phân tích mô tả ĐTNC, chúng tôi 
thu được một số thông tin chung của trẻ như sau:
Đặc điểm Tần suất Tỉ lệ (%)
Giới tính
Trai 
Gái
251
201
55,6
44,4
Con thứ
Con đầu
2 trở lên
222
230
49,2
50,8
Tuần tuổi thai
21 - 25 tuần
25 tuần 1 ngày - 28 tuần
28 tuần 1 ngày - 32 tuần
32 tuần 1 ngày - 35 tuần
Trên 35 tuần
143
174
109
19
7
31,6
38,5
24,1
4,2
1,6
Cân nặng khi sinh (gram)
< 500
500-700
701-900
901-1000
9
260
107
76
2,0
57,5
23,7
16,8
Cách đẻ
Đẻ thường
Đẻ mổ
317
135
60,1
29,9
Bảng 1. Thông tin chung về trẻ sơ sinh
Bảng 1 cho thấy trong số trẻ sơ sinh thì tỉ lệ trai 
(55,6%) nhiều hơn gái (44,4%). Tỉ lệ trai/gái này 
cũng là phù hợp với một số nghiên cứu khác, đúng 
theo dự đoán về tình trạng lựa chọn giới tính trong 
sinh con của các cặp vợ chồng trẻ. Đây là một 
trong những hậu quả ảnh hưởng từ nền văn hóa và 
suy nghĩ phong kiến của xã hội Việt Nam những 
năm trước đây.
Trọng lượng sơ sinh trung bình là 704 ± 43 
gram, có 9 trẻ trọng lượng thấp dưới 500 gram 
(chiếm 2,0%) và 76 trẻ có trọng lượng cao nhất 
901-1000 gram (chiếm 16,8%).
Trong số 452 trẻ thì số trẻ 21-25 tuần là 143 
chiếm 31,6%; 25 tuần 1 ngày đến 28 tuần chiếm 
38,5%; 28 tuần 1 ngày đến 32 tuần chiếm 24,1%; 
32 tuần 1 ngày đến 35 tuần chiếm 4,2%; có 7 
trẻ trên 35 tuần mà vẫn có cân nặng không hơn 
1000gram, bởi đây là những trẻ sinh đôi, cân 
nặng nhỏ hơn tuổi thai bình thường. 
Số trẻ được đẻ thường trong nghiên cứu này là 
317 trong tổng số 437 trẻ chiếm 60,1% cao hơn đẻ 
mổ với 135 trẻ (29,9%). Số trẻ vừa sinh ra là con 
thứ hai trở lên của bà mẹ trong nghiên cứu là 222 
trẻ chiếm 60,2% gần gấp đôi số trẻ là con đầu tiên 
(147 trẻ chiếm 39,8%).
Biểu đồ 1 cho thấy tỉ lệ trẻ sơ sinh non tháng, 
nhẹ cân được nuôi dưỡng bằng phương pháp cho ăn 
Biểu đồ 1. Tỉ lệ Sống ra viện giai đoạn 2015-2017
Số trẻ được đẻ thường trong nghiên cứu này là 317 trong tổng số 437 trẻ chiếm 60,1% 
cao hơn đẻ mổ với 135 trẻ (29,9%). Số trẻ vừa sinh ra là con thứ hai trở lên của bà mẹ 
trong nghiên cứu là 222 trẻ chiếm 60,2% gần gấp đôi số trẻ là con đầu tiên (147 trẻ 
chiếm 39,8%). 
21
79
23.3
26.7 26.6
73.4
0
10
20
30
40
50
60
70
80
Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Sống ra viện Tử vong khi nằm viện
Biểu đồ 1. Tỉ lệ Sống ra viện giai đoạn 2015-2017 
Biểu đồ 1 cho thấy tỉ lệ trẻ sơ sinh non tháng, nhẹ cân được nuôi dưỡng bằng 
phương pháp cho ăn sớm, có thể sống ra viện tăng theo từng năm. Năm 2015 tỉ lệ này 
chỉ là 21%, năm 2016 tăng lên 23,3%, trong 9 tháng đầu năm 2017 tỉ lệ này là 26,6%. 
Biểu đồ 2. Kết quả theo giới tính của trẻ
0 20 40 60 80 100 120 140 160 180 200
≤24h
25-72h
73h-7 ngày
8-14 ngày
15-30 ngày
31-45 ngày
46-60 ngày
Trên 60 
Sống ra 
106
6
1
36
35
0
0
0
67
75
3
1
27
42
0
53
Trai Gái
Biểu đồ 2. Kết quả theo giới tính của trẻ 
 Biểu đồ 2 cho thấy tỉ lệ trẻ trai có thể sống được ra viện có số lượng 67 trẻ lớn 
hơn số trẻ gái 53 trẻ. Điều này là hợp lý vì trong nghiên cứu này, tỉ lệ trẻ trai cao hơn 
trẻ gái (251 trai > 201 gái). Tỉ lệ trai cũng nhiều hơn gái khi xét tử vong trong vòng 24 
giờ đầu (106>75). Những nguyên nhân gây nên tử vong trong 24 giờ đầu phần lớn là 
do xẹp phổi, thiểu sản phổi, chảy máu nội sọ ở bệnh nhi non, cực non. Số trẻ trai và gái 
tử vong sau 25-72h, 73h-7 ngày, 8-14 ngày, 15-trên 60 ngày lần lượt là 6-3; 1-1; 36-27; 
35-42; 0-0. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với P>0,05. 
sớm, có thể sống ra viện tăng theo từng năm. Năm 
2015 tỉ lệ này chỉ là 21%, năm 2016 tăng lên 23,3%, 
trong 9 tháng đầu năm 2017 tỉ lệ này là 26,6%.
Biểu đồ 2 cho thấy tỉ lệ trẻ trai có thể sống được 
ra viện có số lượng 67 trẻ lớn hơn số trẻ gái 53 trẻ. 
Điều này là hợp lý vì trong nghiên cứu này, tỉ lệ trẻ 
trai cao hơn trẻ gái (251 trai > 201 gái). Tỉ lệ trai 
cũng nhiều hơn gái khi xét tử vong trong vòng 24 
giờ đầu (106>75). Những nguyên nhân gây nên 
tử vong trong 24 giờ đầu phần lớn là do xẹp phổi, 
thiểu sản phổi, chảy máu nội sọ ở bệnh nhi non, 
cực non. Số trẻ trai và gái tử vong sau 25-72h, 
73h-7 ngày, 8-14 ngày, 15-trên 60 ngày lần lượt 
là 6-3; 1-1; 36-27; 35-42; 0-0. Sự khác biệt này 
không có ý nghĩa thống kê với P>0,05.
Từ bảng 2 ta thấy toàn bộ 9 trẻ sinh cực non 
tháng dưới 500gram đều tử vong trong vòng 24 
giờ đầu sau sinh. Trong tổng số 259 trẻ có cân 
nặng từ 500-700gram, số lượng trẻ tử vong trong 
vòng 24 giờ đầu sau sinh là 157 chiếm 60,6%, 14 
trẻ sống được 15-30 ngày (chiếm 5,4%), 64 trẻ 
được nuôi dưỡng lên cân tốt, có phản xạ bú tốt, có 
thể về với mẹ, chiếm 24,7%.
Trẻ có cân nặng tăng dần lên ở các mức 500-
700g, 701-900g, 901-1000g có tỉ lệ sống ra viện 
tăng dần lên, lần lượt là 24,7%; 29,9%; 31,2%. 
Những tỉ lệ này chứng minh hiệu quả không thể 
bàn cãi của việc cho trẻ ăn sớm đã giúp cứu sống 
sinh mạng của rất nhiều trẻ sinh non, cực non nhẹ 
cân, giúp tăng hiệu quả điều trị và giảm gánh 
nặng cho gia đình, rút ngắn thời gian nằm viện 
mang lại niềm vui trọn vẹn cho gia đình. 
Bảng 3 cho thấy, trong 131 trẻ có tuổi thai từ 
21-25 tuần tuổi thì chỉ có 4 trẻ có thể sống ra viện 
(chiếm 3,1%), còn lại có một số lớn (113) trẻ tử 
vong trong vòng 24 giờ đầu, chiếm 86,3%. Trong 
số 146 trẻ có tuổi thai 25 tuần 1 ngày – 28 tuần 
thì có 43 trẻ có thể sống ra viện (chiếm 29,5%), có 
tới 55 trẻ tử vong trong 24 giờ đầu sau sinh, chiếm 
37,9% . Trong số 128 trẻ có tuổi thai 28 tuần 1 
ngày – 32 tuần thì có tới 47 trẻ (36,8%) có thể 
sống ra viện, có 43 trẻ (33,5%) có thể sống 8-14 
ngày tuổi. Trong số 10 trẻ trên 35 tuần thì có 3 
trẻ (30%) có thể sống ra viện, 7 trẻ còn lại tử vong 
trong vòng 24 giờ vì lý do nhiễm khuẩn sơ sinh. Kết 
quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Sumru 
Kavurt và cộng sự, tác giả nhận thấy tuổi thai thấp 
NGUYỄN THANH THỦY, NGUYỄN THỊ THANH TÂM, THÁI THỊ LIÊN PHƯƠNG
100
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Cân 
nặng Tổng
Sống 
≤ 
24h
Sống 
25-
72h
Sống 
73h-7 
ngày
Sống 
8 - 14 
ngày
Sống 
15-30 
ngày
Sống 
41-45 
ngày
Sống 
46-60 
ngày
Sống 
trên 60 
ngày
Sống ra 
viện
<500g 9 (2,0%) 9 0 0 0 0 0 0 0 0 (0%)
500 
-700g
259 
(57,3%) 157 7 2 15 14 0 0 0
64 
(24,7%)
701 
-900g
107 
(23,7%) 8 2 0 30 35 0 0 0
32 
(29,9%)
901 
-1000g
77 
(17,0%) 7 0 0 18 28 0 0 0
24 
(31,2%)
Tổng 452 (100%) 181 9 2 63 77 0 0 0
120 
(26,6%)
Bảng 2. Kết quả theo cân nặng của trẻ
Thời gian trẻ sống 21 - 25 tuần 25 tuần 1 ngày - 28 tuần
28 tuần 1 ngày - 
32 tuần
32 tuần 1 ngày - 
35 tuần
Trên 35 
tuần
≤ 24h 113 55 6 0 7
25-72h 0 9 0 0 0
73h-7 ngày 0 0 2 0 0
8-14 ngày 2 18 43 0 0
15-30 ngày 12 21 30 14 0
31-45 ngày 0 0 0 0 0
46-60 ngày 0 0 0 0 0
> 60 ngày 0 0 0 0 0
Sống ra viện 4 43 47 23 3
Tổng 131 146 128 37 10
Bảng 3. Kết quả theo tuổi thai của trẻ
là yếu tố nguy cơ cho chậm tăng trưởng và tử vong 
sau sinh [5].
Như vậy, tổng số trẻ có tuổi thai từ 21 tuần đến trân 
35 tuần sông được ra viện 120 trẻ. Đây là thành công 
lớn trong việc áp dụng quy trình cho trẻ ăn sớm theo 
quy trình ăn sớm của Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.
Kết quả từ biểu đồ 3 và biểu dồ 4 cũng phù 
hợp với nghiên cứu của Schanler RJ và CS. Nhóm 
tác giả nhận thấy tỷ lệ viêm ruột hoại tử và nhiễm 
trùng huyết muộn đã ít hơn trong nhóm FHM, nhìn 
chung, không có sự khác biệt về bất kỳ mức độ 
dung nạp thức ăn giữa các nhóm [6].
Biểu đồ 3. Tỉ lệ trẻ nôn trớ
86,8
13,2
Nôn trớ
Không nôn trớ
Biểu đồ 3. Tỉ lệ trẻ nôn trớ 
95,1
4,9
Chướng bụng
Không chướng bụng
Biểu đồ 4. Tỉ lệ chướng bụng 
Kết quả từ biểu đồ 3 và biểu dồ 4 cũng phù hợp với nghiên cứu của Schanler RJ 
và CS. Nhóm tác giả nhận thấy tỷ lệ viêm ruột hoại tử và nhiễm trùng huyết muộn đã ít 
hơn trong nhóm FHM, nhìn chung, không có sự khác biệt về bất kỳ mức độ dung nạp 
thức ăn giữa các nhóm [6]. 
4. Kết luận 
- Tổng số trẻ sống ra viện được là 120 trẻ, chiếm 26,6% ĐTNC 
- Số trẻ trai sống được ra viện có số lượng 67 trẻ lớn hơn số trẻ gái 53 trẻ. Tỉ lệ 
trai cũng nhiều hơn gái khi xét tử vong trong vòng 24 giờ đầu (106>75). 
86,8
13,2
Nôn trớ
Không nôn trớ
Biểu đồ 3. Tỉ lệ trẻ nôn trớ 
95,1
4,9
Chướng bụng
Không chướng bụng
Biểu đồ 4. Tỉ lệ chướng bụng 
Kết quả từ biểu đồ 3 và biểu dồ 4 cũng phù hợp với nghiên cứu của Schanler RJ 
và CS. Nhóm tác giả nhận thấy tỷ lệ viêm ruột hoại tử và nhiễm trùng huyết muộn đã ít 
hơn trong nhóm FHM, nhìn chung, không có sự khác biệt về bất kỳ mức độ dung nạp 
thức ăn giữa các nhóm [6]. 
4. Kết luận 
- Tổng số trẻ sống ra viện được là 120 trẻ, chiếm 26,6% ĐTNC 
- Số trẻ trai sống được ra viện có số lượng 67 trẻ lớn hơn số trẻ gái 53 trẻ. Tỉ lệ 
trai cũng nhiều hơn gái khi xét tử vo g trong vòng 24 giờ đầu (10 >75). 
Biểu đồ 4. Tỉ lệ chướng bụng
86,8
13,2
Nôn trớ
Không nôn trớ
Biểu đồ 3. Tỉ lệ trẻ nôn trớ 
95,1
4,9
Chướng bụng
Không chướng bụng
Biểu đồ 4. Tỉ lệ chướng bụng 
Kết quả từ biểu đồ 3 và biểu dồ 4 cũng phù hợp với nghiên cứu của Schanler RJ 
và CS. Nhóm tác giả nhận thấy tỷ lệ viêm ruột hoại tử và nhiễm trùng huyết muộn đã ít 
hơn trong nhóm FHM, nhìn chung, không có sự khác biệt về bất kỳ mức độ dung nạp 
thức ăn giữa các nhóm [6]. 
4. Kết luận 
- Tổng số t ẻ số g ra viện được là 120 trẻ, chiếm 26,6% ĐTNC 
- Số trẻ trai sống được ra viện có số lượng 67 trẻ lớn hơn số trẻ gái 53 trẻ. Tỉ lệ 
trai cũng nhiều hơn gái khi xét tử vong trong vòng 24 giờ đầu (106>75). 
86,8
13,2
Nôn trớ
Không nôn trớ
Biểu đồ 3. Tỉ lệ trẻ nôn trớ 
95,1
4,9
Chướng bụng
Không chướng bụng
Biểu đồ 4. Tỉ lệ chướng bụng 
Kết quả t i ồ 3 và biểu dồ 4 cũng phù hợp với nghiên cứu ủa Sch nler RJ 
và CS. Nhóm tá ận thấy tỷ lệ viêm ruột hoại tử và nhiễm trùng huyết muộn đã ít 
hơn trong nhó F , nhìn chung, không có sự khác biệt về bất kỳ mức độ dung ạp 
thức ăn giữa các nhóm [6]. 
4. Kết luận 
- Tổng số trẻ số g ra viện được là 120 trẻ, chiếm 26,6% ĐTNC 
- Số trẻ trai sống được ra viện có số lượng 67 trẻ lớn hơn số trẻ gái 53 trẻ. Tỉ lệ 
trai cũng nhiều hơn gái khi xét tử vong trong vòng 24 giờ đầu (106>75). 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 97 - 101, 2018
101
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
4. Kết luận
- Tổng số trẻ sống ra viện được là 120 trẻ, 
chiếm 26,6% ĐTNC
- Số trẻ trai sống được ra viện có số lượng 67 
trẻ lớn hơn số trẻ gái 53 trẻ. Tỉ lệ trai cũng nhiều 
hơn gái khi xét tử vong trong vòng 24 giờ đầu 
(106>75). 
- Trẻ có cân nặng tăng dần lên ở các mức 500-
700g, 701-900g, 901-1000g có tỉ lệ sống ra viện 
tăng dần lên, lần lượt là 24,7%; 29,9%; 31,2%; 
- Những nguyên nhân gây nên tử vong trong 24 
giờ đầu phần lớn là do xẹp phổi, thiểu sản phổi, 
chảy máu nội sọ ở bệnh nhi non, cực non. 
- Tỉ lệ trẻ nôn trớ là 13,2%
- Tỉ lệ trẻ bị chướng bụng là 4,9%
Tài liệu tham khảo
1. William W. Hay, Jr. Aggressive Nutrition of the Preterm Infant. PMC 
Journals. 2014 Dec 1; 1(4): 10.1007/s40124-013-0026-4.
2. Oddie SJ, Young L, McGuire W. Slow advancement of enteral feed 
volumes to prevent necrotising enterocolitis in very low birth weight 
infants. Cochrane Database Syst Rev. 2017 Aug 30; 8:CD001241. doi: 
10.1002/14651858.CD001241.pub7.
3. Caple J, Armentrout D, Huseby V, Halbardier B, Garcia J, Sparks JW, 
Moya FR. Randomized, controlled trial of slow versus rapid feeding volume 
advancement in preterm infants. Pediatrics. 2004 Dec; 114(6):1597-600.
4. Bozzetti V, De Angelis C, Tagliabue PE. Nutritional approach to 
preterm infants on noninvasive ventilation: An update. Nutrition. 2016 Dec 
27; 37: 14-17.
5. Sumru Kavurt, Kıymet Celik. Incidence and risk factors of postnatal 
growth restriction in preterm infants. J Matern Fetal Neonatal Med. 2018 
Apr;31(8):1105-1107.
6. Schanler RJ, Shulman RJ, Lau C. Feeding strategies for premature 
infants: beneficial outcomes of feeding fortified human milk versus preterm 
formula. Pediatrics. 1999 Jun;103(6 Pt 1):1150-7.

File đính kèm:

  • pdfbuoc_dau_danh_gia_ket_qua_phuong_phap_nuoi_duong_tre_sinh_no.pdf