Bụi gỗ và bệnh lý đường hô hấp ở một công ty chế biến gỗ tỉnh Bình Dương

Đặt vấn đề: Bệnh lý đường hô hấp ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, làm giảm sức lao động, gây gánh

nặng kinh tế - xã hội và gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Nghiên cứu xác định mối liên quan giữa bệnh lý đường hô

hấp và bụi gỗ tại công ty chế biến gỗ nhằm đánh giá thực trạng bệnh lý hô hấp và các yếu tố nguy hại đến sức

khỏe hô hấp của người lao động.

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp, mối liên quan giữa bệnh lý đường hô hấp và bụi gỗ ở một

công ty chế biến gỗ tại tỉnh Bình Dương năm 2019.

pdf 7 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Bụi gỗ và bệnh lý đường hô hấp ở một công ty chế biến gỗ tỉnh Bình Dương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bụi gỗ và bệnh lý đường hô hấp ở một công ty chế biến gỗ tỉnh Bình Dương

Bụi gỗ và bệnh lý đường hô hấp ở một công ty chế biến gỗ tỉnh Bình Dương
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 180 
BỤI GỖ VÀ BỆNH LÝ ĐƯỜNG HÔ HẤP 
Ở MỘT CÔNG TY CHẾ BIẾN GỖ TỈNH BÌNH DƯƠNG 
Đỗ Thị Minh Ngọc*, Nguyễn Quang Bảo*, Trần Ngọc Đăng*, Trịnh Hồng Lân** 
TÓM TẮT (YTCC) 
Đặt vấn đề: Bệnh lý đường hô hấp ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, làm giảm sức lao động, gây gánh 
nặng kinh tế - xã hội và gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Nghiên cứu xác định mối liên quan giữa bệnh lý đường hô 
hấp và bụi gỗ tại công ty chế biến gỗ nhằm đánh giá thực trạng bệnh lý hô hấp và các yếu tố nguy hại đến sức 
khỏe hô hấp của người lao động. 
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp, mối liên quan giữa bệnh lý đường hô hấp và bụi gỗ ở một 
công ty chế biến gỗ tại tỉnh Bình Dương năm 2019. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên đối tượng người lao động 
từ 18 tuổi đang làm việc tại công ty chế biến gỗ thuộc thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Sử dụng phương pháp 
chọn mẫu thuận tiện, phỏng vấn trực tiếp người lao động bằng bộ câu hỏi soạn sẵn từ 5-10 phút tại buổi khám 
bệnh nghề nghiệp tháng 4/2019. Kết hợp đo đạc nồng độ bụi toàn phần tại môi trường làm việc nhằm ước lượng 
mối liên quan với bệnh lý đường hô hấp. 
Kết quả: Nghiên cứu thực hiện trên 355 người lao động, tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp là 11,8%. Nghiên cứu 
tìm thấy mối liên quan giữa bệnh hô hấp và tiền sử bệnh hô hấp gia đình (OR=4,37; KTC95%=1,49–11,74), dân 
tộc khác dân tộc Kinh (OR=3,67; KTC95%=1,32–10,19), yếu tố gây khó chịu trong môi trường lao động1 
(OR=0,66; KTC95%=0,19–0,88). 
Kết luận: Duy trì khám sức khỏe định kỳ và thực hiện quan trắc môi trường lao động là cần thiết để kiểm 
soát các yếu tố nguy hại trong môi trường làm việc tại các cơ sở chế biến gỗ. 
Từ khóa: bụi gỗ, bệnh hô hấp, người lao động 
ABSTRACT 
WOOD DUST AND RESPIRATORY DISEASES AT A WOOD PROCESSING COMPANY 
IN BINH DUONG PROVINCE 
Do Thi Minh Ngoc, Nguyen Quang Bao, Tran Ngoc Dang, Trinh Hong Lan 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 180 - 186 
Backgrounds: Respiratory diseases cause serious effects in health, decrease labor force, cause a global 
socio-economic burden and global burden of disease. Research determines the relationship between 
respiratory diseases and wood dust will assess the proportion of those diseases and occupational hazards 
affecting labor respiratory quality. 
Objectives: To determine the incidence of respiratory diseases, the association between respiratory diseases 
and wood dust in a wood processing company in Binh Duong province in 2019. 
Methods: A cross-sectional study of workers from 18 years old, working in a wood processing company in 
Binh Duong province. Using convenience sampling, interviewing employees directly by closed questionaire for 5-
10 minutes at the occupational examination in April 2019. Combined with monitoring the working environment 
to estimate the association with respiratory diseases. 
*Khoa Y tế Công Cộng – Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 
**Phân viện Khoa học An toàn vệ sinh lao động và Bảo vệ môi trường Miền Nam 
Tác giả liên lạc: BS. Đỗ Thị Minh Ngọc ĐT: 0981861658 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 181 
Results: Survey of 355 subjects showed that the rate of respiratory diseases was 11.8%. The study found an 
association between respiratory diseases and a family history of respiratory diseases (OR=4.37; 95% CI=1.49–
11.74), ethnicity different from the Kinh ethnic group (OR=3.67; 95% CI=1.32–10.19), disruptive factors in the 
working environment (OR=0.66; 95% CI=0.19–0.88). 
Conclusions: Maintaining periodic health examination and measuring the working environment 
observation is necessary to control hazardous factors to wood workers’ health. 
Keywords: ưood dust, worker, respiratory disease 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Bệnh lý đường hô hấp nghề nghiệp trên thế 
giới đang ngày càng gia tăng, phổ biến nhất là 
bệnh bụi phổi với 74% số ca mắc bệnh được ghi 
nhận bởi Bộ Y Tế năm 2012(1). Người lao động 
dành trung bình 48 giờ/tuần để làm việc và lặp 
lại từ năm này sang năm khác. Vì thế chất lượng 
môi trường lao động tại công ty là yếu tố quan 
trọng ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như năng 
suất của người lao động. Tuy nhiên, môi trường 
lao động hiện đang phải đối mặt với tình trạng ô 
nhiễm nghiêm trọng, trong đó có cả Việt Nam(2,3). 
Các bệnh lý đường hô hấp ảnh hưởng lâu dài 
đến sức khỏe, làm giảm sức lao động; tăng tỉ lệ 
mất khả năng lao động lên tới 30 – 60%(4). Tổng 
chi phí chữa trị các bệnh đường hô hấp tại các 
nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương 
là 4.191 đô/người/năm (năm 2013)(5). 
Tỉnh Bình Dương có hơn 28 khu công 
nghiệp (năm 2016), với sổ lượng lên đến hàng 
nghìn người lao động, nắm giữ vai trò quan 
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của khu 
vực Miền Nam. Để đảm bảo tốc độ phát triển 
kinh tế và đảm bảo công tác lao động đạt năng 
suất cao, người lao động phải làm việc liên tục 
và đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe. Chúng 
tôi thực hiện nghiên cứu “Mối liên quan giữa 
bụi gỗ và bệnh lý đường hô hấp của người lao 
động tại một công ty sản xuất đồ nội thất gỗ 
tỉnh Bình Dương năm 2019” mong muốn xác 
định tình hình bệnh hô hấp của người lao 
động. Đồng thời, bổ sung tỉ lệ bệnh hô hấp liên 
quan nghề nghiệp, làm tiền đề cho các nghiên 
cứu sức khỏe nghề nghiệp sau này. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Người lao động đủ 18 tuổi trở lên làm việc 
tại một công ty chế biến gỗ thuộc thị xã Thuận 
An, tỉnh Bình Dương trong khoảng thời gian từ 
8/4/2019 đến 31/5/2019. 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang. 
Phương pháp thu thập số liệu 
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn 
mẫu thuận tiện. Thực hiện khảo sát bộ câu hỏi 
kết hợp khám bệnh nghề nghiệp và đo quan trắc 
môi trường lao động của công ty đối với hai chỉ 
tiêu là vi khí hậu và bụi toàn phần. Với cỡ mẫu 
tối thiểu ước tính là 135 người, khảo sát tất cả 
những đối tượng thỏa tiêu chí từ 18 tuổi trở lên 
hiện đang làm việc tại công ty, có mặt tại thời 
điểm nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên 
cứu. Nghiên cứu giới hạn thời gian khảo sát từ 5-
10 phút đối với một đối tượng. 
Thu thập số liệu 
Dữ liệu nồng độ bụi toàn phần được đo 
bằng máy đo bụi HI-Q của Mỹ vào tháng 9/2018. 
Sử dụng giấy lọc đường kính 47mm đặt trong 1 
hệ thống bơm hút không khí (lưu lượng 10-30 
lít/phút) đo từ 6-8 tiếng giữa ca làm việc của đối 
tượng. Giấy lọc được cân trước và sau khi lấy 
mẫu, kết hợp với thể tích không khí để tính nồng 
độ bụi thu được. 
Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát gồm 4 phần, 
trong đó: 10 câu hỏi khai thác về đặc điểm dân 
số học bao gồm tuổi, giới tính, dân tộc, tình trạng 
hôn nhân; 3 câu hỏi về môi trường lao động và 
điều kiện bảo hộ lao động; 16 câu hỏi về tình 
hình sức khỏe chung của người lao động (bao 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 182 
gồm triệu chứng hô hấp và tiền sử hô hấp gia 
đình); 2 câu hỏi về tình hình bệnh hiện tại của 
đối tượng. 
Xử lý và phân tích dữ kiện 
Nghiên cứu thực hiện trên người lao động 
tại một công ty sản xuất đồ nội thất gỗ tỉnh Bình 
Dương. Chọn mẫu thuận tiện 373 đối tượng, 
trong đó 355 đối tượng đồng ý tham gia nghiên 
cứu và trả lời đầy đủ bộ câu hỏi, đạt tỉ lệ 95,2%. 
Quản lý và nhập liệu bằng phần mềm 
Microsoft Excel 2016 và Epidata 3.1. Xử lý và 
phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 14.2. 
Sử dụng phép kiểm Chi bình phương hoặc 
phép kiểm chính xác Fisher để xác định mối liên 
quan giữa bệnh lý đường hô hấp với đặc điểm 
cá nhân và đặc điểm nghề nghiệp. Sử dụng hồi 
quy Logistic đơn biến để xác định tỉ số số chênh 
OR (Odd Ratio) với khoảng tin cậy 95% (KTC 
95%) và ý nghĩa thống kê p <0,05. Số chênh OR 
được báo cáo dựa trên hai tiêu chí: giá trị p<0,05 
và KTC 95% không chứa 1. 
Y đức 
Nghiên cứu đã được chấp thuận về mặt y 
đức từ Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y 
sinh học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí 
Minh số 108 kí ngày 20/03/2019. 
KẾT QUẢ 
Trong số 355 người lao động (NLĐ) tham gia 
nghiên cứu, đa số NLĐ là nam giới chiếm 83,7%. 
Chủ yếu NLĐ thuộc độ tuổi từ 31 - 40 tuổi với tỉ 
lệ là 45,3%. Dân tộc Kinh chiếm hơn 4/5 tổng số 
mẫu (83,1%), trình độ học vấn với 54,4% là cấp 
II. Phần lớn NLĐ đều đã kết hôn (76,9%) và đa 
số NLĐ có 2 người con (42,3%). 
NLĐ chưa từng hút thuốc lá chiếm đa số với 
67,9%. NLĐ hiện tại có hút thuốc lá chiếm tỉ lệ là 
28,7% và số điếu thuốc lá hút mỗi ngày phân 
phối lệch phải với trung vị là 5 điếu thuốc lá và 
khoảng tứ phân vị tại 25% và 75% lần lượt là 3 
điếu và 9 điếu thuốc lá. Tỉ lệ NLĐ có người thân 
trong gia đình có tiền sử hen phế quản là 2% và 
viêm mũi dị ứng là 5,1% (Bảng 1). 
Bảng 1: Đặc tính nền của đối tượng nghiên cứu 
(n=355) 
Đặc tính Tần số Tỉ lệ (%) 
Giới tính 
Nam 297 83,7 
Nữ 58 16,3 
Nhóm tuổi 
< 21 tuổi 16 4,5 
21 – 30 tuổi 112 31,6 
31 – 40 tuổi 161 45,3 
41 – 50 tuổi 62 17,5 
> 50 tuổi 4 1,1 
Dân tộc 
Kinh 295 83,1 
Khmer 39 11,0 
Hoa 2 0,6 
Khác (Mường, Tày, Sán Dìu) 19 5,3 
Trình độ học vấn 
Mù chữ 8 2,2 
Biết đọc nhưng không biết viết 1 0,3 
Cấp I 68 19,2 
Cấp II 193 54,4 
Cấp III 77 21,7 
Trên cấp III 8 2,2 
Hút thuốc lá 
Không hút thuốc 241 67,9 
Có hút thuốc 102 28,7 
Đã từng hút thuốc 12 3,4 
Tiền sử bệnh lý hô hấp gia đình 
Viêm mũi dị ứng 18 5,1 
Hen phế quản 7 2,0 
Không 330 92,9 
Bảng 2: Đặc điểm nghề nghiệp của đối tượng 
(n=355) 
Đặc điểm Tần số Tỉ lệ (%) 
Bộ phận 
Sơn 143 40,3 
Mộc máy 133 37,5 
Lắp ráp 41 11,5 
Kho gỗ 17 4,8 
Đúc đồng 12 3,4 
Kiểm hàng 4 1,1 
Bảo trì 4 1,1 
Kỹ thuật 1 0,3 
Tuổi nghề 
< 3 năm 161 45,4 
3 – <5 năm 65 18,3 
5 – 9 năm 87 24,5 
> 9 năm 42 11,8 
Yếu tố gây khó chịu
1 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 183 
Đặc điểm Tần số Tỉ lệ (%) 
Không 123 34,7 
Bụi 165 46,5 
Nhiệt độ cao 100 28,2 
Ngột ngạt 21 5,9 
Độ ẩm cao 10 2,8 
Nấm mốc 6 1,7 
Khác (tiếng ồn, mùi sơn) 29 21,1 
Sử dụng khẩu trang 
Có 352 99,2 
Không 3 0,8 
Bảng 2 cho thấy phần lớn NLĐ làm ở bộ 
phận mộc máy và bộ phận sơn (lần lượt là 37,5% 
và 40,3%). NLĐ làm việc dưới 3 năm chiếm tỉ lệ 
45,4% (trong đó hơn 1 nửa là lao động dưới 1 
năm), nhóm tuổi nghề từ 5 đến 9 năm cũng 
chiếm tỉ lệ cao 24,5%. Có 65,4% số NLĐ cho là có 
các yếu tố gây khó chịu trong môi trường làm 
việc, trong đó yếu tố bụi chiếm tỉ lệ cao nhất 
46,5%. Hầu hết các NLĐ đều được trang bị khẩu 
trang (99,2%). 
Bảng 3: Tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp (n=355) 
Đặc tính Tần số Tỉ lệ (%) 
Bệnh lý hô hấp 
Viêm phế quản mạn tính 15 4,2 
Viêm mũi dị ứng 21 5,9 
Viêm họng 10 2,8 
Viêm phổi 1 0,3 
Không 308 86,8 
Bảng 3 thể hiện tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp, 
trong đó viêm mũi dị ứng chiếm tỉ lệ cao nhất 
với 5,9%; tỉ lệ bệnh viêm phế quản mạn tính là 
4,2%; tỉ lệ viêm họng là 2,8% và tỉ lệ viêm phổi 
là 0,3%. 
Bảng 4 cho thấy có mối liên quan giữa tỉ lệ 
người thuộc dân tộc khác (Mường, Tày, Sán Dìu) 
có bệnh lý hô hấp là 14,3% và những đối tượng 
này có tỉ số số chênh mắc bệnh bằng 3,67 lần so 
với những đối tượng thuộc dân tộc Kinh (KTC 
95% 1,32 – 10,19). Những đối tượng thuộc dân 
tộc khác thì sẽ có số chênh xuất hiện bệnh lý hô 
hấp càng cao với sự khác biệt có ý nghĩa thống 
kê (p=0,013). Tỉ lệ đối tượng có gia đình có tiền 
sử bệnh hô hấp có xuất hiện bệnh lý hô hấp là 
19,1% với tỉ số số chênh mắc bệnh bằng 4,37 lần 
so với những đối tượng không có gia đình có 
tiền sử bệnh hô hấp (KTC 95% 1,49 – 11,74). 
Những đối tượng có gia đình có tiền sử bệnh hô 
hấp thì tỉ số số chênh xuất hiện bệnh lý hô hấp 
càng cao với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
(p=0,003). Tỉ lệ đối tượng có bệnh lý hô hấp và 
cảm thấy có yếu tố khó chịu trong môi trường 
lao động là 83,3% và các đối tượng có tỉ số số 
chênh mắc bệnh bằng 0,66 lần so với những đối 
tượng không cảm thấy có yếu tố gây khó chịu 
(KTC 95% 0,19 – 0,88). Những đối tượng cảm 
thấy có yếu tố khó chịu trong môi trường lao 
động thì sẽ có số chênh xuất hiện bệnh lý hô hấp 
càng giảm với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
(p=0,009). Các yếu tố khác như giới tính, nhóm 
tuổi, hút thuốc lá, bộ phận, tuổi nghề cho thấy 
không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 
bệnh lý đường hô hấp. 
Bảng 4: Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng và bệnh lý đường hô hấp (n=355) 
Đặc điểm 
Bệnh hô hấp 
Giá trị p 
OR 
(KTC 95%) Có (%) (n=42) Không (%) (n=313) 
Giới tính 
Nam 37 (88,1) 260 (83,1) 0,408 1,51 (0,55 – 5,14) 
Nữ 5 (11,9) 53 (16,9) 1 
Nhóm tuổi 
31 – 40 tuổi 22 (52,4) 139 (44,4) 1 
≤ 30 tuổi 14 (33,3) 114 (36,4) 0,486 0,78 (0,38 – 1,59) 
> 40 tuổi 6 (14,3) 60 (19,2) 0,345 0,63 (0,24 – 1,64) 
Hút thuốc lá 
Không hút thuốc 3 (7,1) 9 (2,9) 1 
Có hút thuốc 11 (26,2) 91 (29,1) 0,181 2,54 (0,65 – 9,93) 
Đã từng hút thuốc 28 (66,7) 213 (68,0) 0,824 0,92 (0,44 – 1,93) 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 184 
Đặc điểm 
Bệnh hô hấp 
Giá trị p 
OR 
(KTC 95%) Có (%) (n=42) Không (%) (n=313) 
Dân tộc 
Kinh 29 (69,0) 266 (85,0) 1 
Khmer 7 (16,7) 32 (10,2) 0,131 2,01 (0,81 – 4,95) 
Khác 6 (14,3) 15 (4,8) 0,013 3,67 (1,32 – 10,19) 
Tiền sử bệnh lý hô hấp gia đình
2 
Có 8 (19,1) 16 (5,1) 0,003 4,37 (1,49 – 11,74) 
1 Không 34 (80,9) 297 (94,9) 
Yếu tố gây khó chịu 
Có 35 (83,3) 197 (62,9) 0,009 0,66 (0,19 – 0,88) 
1 Không 7 (16,7) 116 (37,1) 
Bộ phận 
Mộc máy 14 (33,3) 119 (38,0) 0,926 1,04 (0,42 – 2,61) 
Sơn 20 (47,6) 123 (39,3) 0,409 1,44 (0,69 – 3,45) 
Khác 8 (19,1) 71 (22,7) 1 
Tuổi nghề 
< 3 năm 20 (47,6) 141 (45,1) 1 
3 – <5 năm 8 (19,1) 57 (18,2) 0,981 0,99 (0,41 – 2,38) 
5 – 9 năm 11 (26,2) 76 (24,3) 0,960 1,02 (0,46 – 2,24) 
> 9 năm 3 (7,1) 39 (12,4) 0,343 0,54 (0,15 – 1,91) 
2Kiểm định chính xác Fisher 
Nồng độ bụi toàn phần tại công ty dao động 
3,00 2,6 (mg/m3), nồng độ bụi thấp nhất là 0,35 
mg/m3 và cao nhất là 9,29 mg/m3. Nghiên cứu 
không tìm thấy mối liên quan giữa bụi toàn 
phần và bệnh lý đường hô hấp của người lao 
động như viêm phế quản mạn tính, viêm mũi dị 
ứng, viêm họng và viêm phổi (p >0,1) (Bảng 5). 
Bảng 5: Mối liên quan giữa bệnh lý đường hô hấp và 
bụi toàn phần bằng hồi quy Logistic đơn biến (n=355) 
Đặc điểm
OR (KTC 95%) Giá trị p 
Viêm phế quản mạn tính 1,15 (0,82 – 1,61) 0,420 
Viêm mũi dị ứng 1,09 (0,81 – 1,46) 0,307 
Viêm họng 0,81 (0,51 – 1,29) 0,373 
Viêm phổi 1,95 (0,80 – 4,74) 0,140 
BÀN LUẬN 
Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố trong 
môi trường lao động liên quan đến các triệu 
chứng hô hấp được thực hiện rất nhiều trên thế 
giới như nghiên cứu của tác giả Chaiear (Thái 
Lan, 2018), Soongkhang (Thái Lan, 2015), 
Thetkathuek (Thái Lan, 2010), Neghab (Iran, 
2018)(6,7,8,9). Những nghiên cứu này cho thấy được 
các tác động xấu đến sức khỏe, đặc biệt là sức 
khỏe hô hấp phụ thuộc vào giới tính, độ tuổi, 
tuổi nghề (tuổi lao động) và loại bụi có trong môi 
trường lao động(6,9). Hầu hết các nghiên cứu đều 
tập trung đánh giá triệu chứng hô hấp và chức 
năng hô hấp của NLĐ, trong đó đánh giá các 
triệu chứng như ho, khạc đờm, khó thở, thở khò 
khè (6,8,11). 
Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định tỉ 
lệ bệnh lý đường hô hấp và xem xét mối liên 
quan với các yếu tố cá nhân và các yếu tố liên 
quan đến nghề nghiệp của NLĐ. Sử dụng bộ câu 
hỏi phỏng vấn kết hợp đo đạc nồng độ bụi toàn 
phần tại công ty. Nồng độ bụi toàn phần đo 
được thấp hơn trong nghiên cứu của Nguyễn 
Bích Diệp và cộng sự (2008) khoảng 9,3 – 10,3 
mg/m3(2). Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu 
của Michael và cộng sự (2009) làm tại nhà máy 
gỗ Alberta. Cụ thể, nồng độ bụi toàn phần trung 
bình trong nghiên cứu này cao gấp 28 lần tại nhà 
máy gỗ Alberta(10). 
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, các bệnh 
hô hấp NLĐ thường gặp bao gồm bệnh viêm 
mũi dị ứng, viêm phế quản mạn tính, viêm họng 
và viêm phổi. Tuy nhiên, tỉ lệ các bệnh này là rất 
thấp, cao nhất là bệnh viêm mũi dị ứng với tỉ lệ 
5,9%. Ở các nghiên cứu khác, triệu chứng hô hấp 
chủ yếu là ho kéo dài, khạc đờm, khó thở hoặc 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 185 
thở khò khè(6,8,11). 
Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan 
giữa bệnh lý đường hô hấp và hầu hết các yếu 
tố như giới tính, độ tuổi, hút thuốc lá, tuổi 
nghề. Bên cạnh đó, nghiên cứu tìm thấy mối 
liên quan mạnh giữa dân tộc và bệnh lý đường 
hô hấp. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác chưa 
khai thác sâu về vấn đề dân tộc và chúng tôi 
vẫn chưa tìm thấy lời giảỉ thích phù hợp cho 
mối liên quan này. 
Tiền sử bệnh lý đường hô hấp của gia đình 
cũng cho thấy mối liên quan đến bệnh lý đường 
hô hấp. Viêm mũi dị ứng gây ảnh hưởng lâu dài 
đến sức khỏe, làm ảnh hưởng đến năng suất làm 
việc của người lao động(12). Tuy nhiên, khác với 
nghiên cứu của Chaiear và cộng sự (2018) không 
tìm thấy mối liên quan giữa tiền sử hô hấp đình 
và bệnh hen suyễn(6). Điều này có thể giải thích là 
do thiết kế nghiên cứu cắt ngang chỉ phản ánh 
được trong một thời điểm và có thể có xuất hiện 
Hiệu ứng công nhân khỏe gây sai lệch khi đo 
lường. Bên cạnh đó, nghiên cứu có thể đã bỏ sót 
một số đối tượng mắc bệnh hô hấp từ chối thực 
hiện chức năng hô hấp và đối với thời gian tiếp 
xúc ngắn của NLĐ với bụi gỗ tại công ty sẽ dễ 
gây nên các triệu chứng hô hấp hơn là các bệnh 
đường hô hấp dưới (viêm phế quản, hen suyễn). 
Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan 
giữa bụi toàn phần và viêm họng. Tuy nhiên, 
trong một nghiên cứu đánh giá hệ thống và 
phân tích tổng hợp năm 2018 cho thấy mối liên 
quan trực tiếp giữa phơi nhiễm bụi gỗ và ung 
thư vòm họng (OR = 1,5; KTC 95% 1,09 - 2,07). 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tuy chưa tìm 
thấy mối liên quan, nhưng nguyên nhân được 
dự đoán là do thiết kế nghiên cứu cắt ngang chỉ 
thực hiện tại một thời điểm nên không đánh giá 
được tình trạng bệnh. Vì vậy, cần tiến hành một 
số nghiên cứu có tính chất lâu dài như nghiên 
cứu đoàn hệ hoặc đánh giá tác động sức khỏe để 
xem xét chiều tác động của bụi đến viêm họng. 
Nghiên cứu còn có một số điểm hạn chế. 
Thứ nhất, nghiên cứu chỉ thực hiện đánh giá tình 
trạng sức khỏe với một nhóm nhỏ đối tượng 
tham gia và đo nồng độ bụi toàn phần của một 
công ty. Thứ hai, việc đo nồng độ bụi toàn phần 
chưa đánh giá được mức độ bụi ảnh hưởng như 
thế nào đến sức khỏe. Thứ ba, giống như đa số 
các nghiên cứu khác, nghiên cứu chúng tôi sử 
dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang nên ảnh 
hưởng của “Hiệu ứng công nhân khỏe” là không 
thể tránh khỏi. Điểm mạnh của nghiên cứu là kết 
hợp khai thác tình trạng bệnh lý đường hô hấp 
của NLĐ và đo nồng độ bụi toàn phần tại nơi 
làm việc của đối tượng nhằm đánh giá đúng mối 
liên quan giữa bệnh lý đường hô hấp và bụi gỗ 
tại công ty. 
KẾT LUẬN 
Tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp là 11,8%. Trong 
đó, 5,9% mắc bệnh viêm mũi dị ứng; 2,8% có 
viêm họng; 4,2% viêm phế quản mạn tính và 
0,3% viêm phổi. Nghiên cứu cho thấy bụi gỗ 
cũng là một yếu tố góp phần ảnh hưởng đến 
bệnh lý đường hô hấp. Vì vậy duy trì khám sức 
khỏe định kỳ và thực hiện quan trắc môi trường 
lao động là cần thiết để kiểm soát các yếu tố 
nguy hại trong môi trường làm việc tại các cơ sở 
chế biến gỗ. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. International Labour Organization (2013). ILO calls for urgent 
global action to fight occupational diseases. URL: 
https://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformat
ion/Pressreleases/WCMS_211708/lang--en/index.htm. 
2. Nguyễn Bích Diệp, Doãn Ngọc Hải (2008). “Thực trạng an toàn 
vệ sinh lao động tại một làng nghề sản xuất đồ mỹ nghệ thuộc 
tỉnh Bắc Ninh năm 2008”. Y học Dự phòng, pp.169. 
3. Phạm Hoài Thương (2018). “Nghiên cứu đánh giá một số tác 
động chính tới môi trường của dự án sản xuất đồ gỗ”. Khóa luận 
Tốt nghiệp Môi trường, Đại học Dân lập Hải Phòng. 
4. Bộ Thương binh và xã hội, Bộ Y Tế (1976). “Quy định một số 
bệnh nghề nghiệp và chế độ đãi ngộ công nhân viên chức nhà 
nước mắc bệnh nghề nghiệp”. Tổng Công đoàn Việt Nam. 
5. Wang AH, Leng PB, Bia GL, et al (2016). “The application of two 
occupation health risk assessment models in a wooden furniture 
manufacturing industry”. Zhonghua Lao Dong Wei Sheng Zhi Ye 
Bing Za Zhi, pp.756-761. 
6. Chaiear N, Ngoencharee J, Saejiw N (2018). “Respiratory 
Symptoms and Pulmonary Function among Workers in a 
Rubber Wood Sawmill Factory in Thailand”. American Journal of 
Public Health Research, pp.65-71. 
7. Neghab M, Jabari Z, Shouroki FK (2018). “Functional disorders 
of the lung and symptoms of respiratory disease associated with 
occupational inhalation exposure to wood dust in Iran”. 
Epidemiol Health, pp.40. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 186 
8. Soongkhang I, Laohasiriwong W (2015). “Respiratory Tract 
Problems among Wood Furniture Manufacturing Factory 
Workers in the Northeast of Thailand”. Kathmandu Univ Med J, 
pp.125-129. 
9. Thetkathuek A, Yingratanasuk T, Demers PA, et al (2010). 
“Rubberwood dust and lung function among Thai furniture 
factory workers”. Int J Occup Environ Health, pp.69-74. 
10. Yamanaka MW, Guidotti TL, Koehncke N, et al (2009). “Wood 
dust levels in Alberta sawmills”. Arch Environ Occup Health, 
pp.270-277. 
11. Mohan M, PanwarNK (2013). “Effect of wood dust on 
respiratory health status of carpenters”. J Clin Diagn Res, 
pp.1589-1591, . 
12. Centers for Disease Control and Prevention (CDC) (2017). Sinus 
Infection. URL: https://www.cdc.gov/antibiotic-
use/community/for-patients/common-illnesses/sinus-
infection.html. 
Ngày nhận bài báo: 02/10/2019 
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 06/12/2019 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020 

File đính kèm:

  • pdfbui_go_va_benh_ly_duong_ho_hap_o_mot_cong_ty_che_bien_go_tin.pdf