Bụi gỗ và bệnh lý đường hô hấp ở một công ty chế biến gỗ tỉnh Bình Dương
Đặt vấn đề: Bệnh lý đường hô hấp ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, làm giảm sức lao động, gây gánh
nặng kinh tế - xã hội và gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Nghiên cứu xác định mối liên quan giữa bệnh lý đường hô
hấp và bụi gỗ tại công ty chế biến gỗ nhằm đánh giá thực trạng bệnh lý hô hấp và các yếu tố nguy hại đến sức
khỏe hô hấp của người lao động.
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp, mối liên quan giữa bệnh lý đường hô hấp và bụi gỗ ở một
công ty chế biến gỗ tại tỉnh Bình Dương năm 2019.
Bạn đang xem tài liệu "Bụi gỗ và bệnh lý đường hô hấp ở một công ty chế biến gỗ tỉnh Bình Dương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bụi gỗ và bệnh lý đường hô hấp ở một công ty chế biến gỗ tỉnh Bình Dương
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 180 BỤI GỖ VÀ BỆNH LÝ ĐƯỜNG HÔ HẤP Ở MỘT CÔNG TY CHẾ BIẾN GỖ TỈNH BÌNH DƯƠNG Đỗ Thị Minh Ngọc*, Nguyễn Quang Bảo*, Trần Ngọc Đăng*, Trịnh Hồng Lân** TÓM TẮT (YTCC) Đặt vấn đề: Bệnh lý đường hô hấp ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, làm giảm sức lao động, gây gánh nặng kinh tế - xã hội và gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Nghiên cứu xác định mối liên quan giữa bệnh lý đường hô hấp và bụi gỗ tại công ty chế biến gỗ nhằm đánh giá thực trạng bệnh lý hô hấp và các yếu tố nguy hại đến sức khỏe hô hấp của người lao động. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp, mối liên quan giữa bệnh lý đường hô hấp và bụi gỗ ở một công ty chế biến gỗ tại tỉnh Bình Dương năm 2019. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên đối tượng người lao động từ 18 tuổi đang làm việc tại công ty chế biến gỗ thuộc thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phỏng vấn trực tiếp người lao động bằng bộ câu hỏi soạn sẵn từ 5-10 phút tại buổi khám bệnh nghề nghiệp tháng 4/2019. Kết hợp đo đạc nồng độ bụi toàn phần tại môi trường làm việc nhằm ước lượng mối liên quan với bệnh lý đường hô hấp. Kết quả: Nghiên cứu thực hiện trên 355 người lao động, tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp là 11,8%. Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa bệnh hô hấp và tiền sử bệnh hô hấp gia đình (OR=4,37; KTC95%=1,49–11,74), dân tộc khác dân tộc Kinh (OR=3,67; KTC95%=1,32–10,19), yếu tố gây khó chịu trong môi trường lao động1 (OR=0,66; KTC95%=0,19–0,88). Kết luận: Duy trì khám sức khỏe định kỳ và thực hiện quan trắc môi trường lao động là cần thiết để kiểm soát các yếu tố nguy hại trong môi trường làm việc tại các cơ sở chế biến gỗ. Từ khóa: bụi gỗ, bệnh hô hấp, người lao động ABSTRACT WOOD DUST AND RESPIRATORY DISEASES AT A WOOD PROCESSING COMPANY IN BINH DUONG PROVINCE Do Thi Minh Ngoc, Nguyen Quang Bao, Tran Ngoc Dang, Trinh Hong Lan * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 180 - 186 Backgrounds: Respiratory diseases cause serious effects in health, decrease labor force, cause a global socio-economic burden and global burden of disease. Research determines the relationship between respiratory diseases and wood dust will assess the proportion of those diseases and occupational hazards affecting labor respiratory quality. Objectives: To determine the incidence of respiratory diseases, the association between respiratory diseases and wood dust in a wood processing company in Binh Duong province in 2019. Methods: A cross-sectional study of workers from 18 years old, working in a wood processing company in Binh Duong province. Using convenience sampling, interviewing employees directly by closed questionaire for 5- 10 minutes at the occupational examination in April 2019. Combined with monitoring the working environment to estimate the association with respiratory diseases. *Khoa Y tế Công Cộng – Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh **Phân viện Khoa học An toàn vệ sinh lao động và Bảo vệ môi trường Miền Nam Tác giả liên lạc: BS. Đỗ Thị Minh Ngọc ĐT: 0981861658 Email: [email protected] Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 181 Results: Survey of 355 subjects showed that the rate of respiratory diseases was 11.8%. The study found an association between respiratory diseases and a family history of respiratory diseases (OR=4.37; 95% CI=1.49– 11.74), ethnicity different from the Kinh ethnic group (OR=3.67; 95% CI=1.32–10.19), disruptive factors in the working environment (OR=0.66; 95% CI=0.19–0.88). Conclusions: Maintaining periodic health examination and measuring the working environment observation is necessary to control hazardous factors to wood workers’ health. Keywords: ưood dust, worker, respiratory disease ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh lý đường hô hấp nghề nghiệp trên thế giới đang ngày càng gia tăng, phổ biến nhất là bệnh bụi phổi với 74% số ca mắc bệnh được ghi nhận bởi Bộ Y Tế năm 2012(1). Người lao động dành trung bình 48 giờ/tuần để làm việc và lặp lại từ năm này sang năm khác. Vì thế chất lượng môi trường lao động tại công ty là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như năng suất của người lao động. Tuy nhiên, môi trường lao động hiện đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, trong đó có cả Việt Nam(2,3). Các bệnh lý đường hô hấp ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe, làm giảm sức lao động; tăng tỉ lệ mất khả năng lao động lên tới 30 – 60%(4). Tổng chi phí chữa trị các bệnh đường hô hấp tại các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương là 4.191 đô/người/năm (năm 2013)(5). Tỉnh Bình Dương có hơn 28 khu công nghiệp (năm 2016), với sổ lượng lên đến hàng nghìn người lao động, nắm giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Miền Nam. Để đảm bảo tốc độ phát triển kinh tế và đảm bảo công tác lao động đạt năng suất cao, người lao động phải làm việc liên tục và đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Mối liên quan giữa bụi gỗ và bệnh lý đường hô hấp của người lao động tại một công ty sản xuất đồ nội thất gỗ tỉnh Bình Dương năm 2019” mong muốn xác định tình hình bệnh hô hấp của người lao động. Đồng thời, bổ sung tỉ lệ bệnh hô hấp liên quan nghề nghiệp, làm tiền đề cho các nghiên cứu sức khỏe nghề nghiệp sau này. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Người lao động đủ 18 tuổi trở lên làm việc tại một công ty chế biến gỗ thuộc thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương trong khoảng thời gian từ 8/4/2019 đến 31/5/2019. Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu cắt ngang. Phương pháp thu thập số liệu Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Thực hiện khảo sát bộ câu hỏi kết hợp khám bệnh nghề nghiệp và đo quan trắc môi trường lao động của công ty đối với hai chỉ tiêu là vi khí hậu và bụi toàn phần. Với cỡ mẫu tối thiểu ước tính là 135 người, khảo sát tất cả những đối tượng thỏa tiêu chí từ 18 tuổi trở lên hiện đang làm việc tại công ty, có mặt tại thời điểm nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu. Nghiên cứu giới hạn thời gian khảo sát từ 5- 10 phút đối với một đối tượng. Thu thập số liệu Dữ liệu nồng độ bụi toàn phần được đo bằng máy đo bụi HI-Q của Mỹ vào tháng 9/2018. Sử dụng giấy lọc đường kính 47mm đặt trong 1 hệ thống bơm hút không khí (lưu lượng 10-30 lít/phút) đo từ 6-8 tiếng giữa ca làm việc của đối tượng. Giấy lọc được cân trước và sau khi lấy mẫu, kết hợp với thể tích không khí để tính nồng độ bụi thu được. Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát gồm 4 phần, trong đó: 10 câu hỏi khai thác về đặc điểm dân số học bao gồm tuổi, giới tính, dân tộc, tình trạng hôn nhân; 3 câu hỏi về môi trường lao động và điều kiện bảo hộ lao động; 16 câu hỏi về tình hình sức khỏe chung của người lao động (bao Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 182 gồm triệu chứng hô hấp và tiền sử hô hấp gia đình); 2 câu hỏi về tình hình bệnh hiện tại của đối tượng. Xử lý và phân tích dữ kiện Nghiên cứu thực hiện trên người lao động tại một công ty sản xuất đồ nội thất gỗ tỉnh Bình Dương. Chọn mẫu thuận tiện 373 đối tượng, trong đó 355 đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu và trả lời đầy đủ bộ câu hỏi, đạt tỉ lệ 95,2%. Quản lý và nhập liệu bằng phần mềm Microsoft Excel 2016 và Epidata 3.1. Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 14.2. Sử dụng phép kiểm Chi bình phương hoặc phép kiểm chính xác Fisher để xác định mối liên quan giữa bệnh lý đường hô hấp với đặc điểm cá nhân và đặc điểm nghề nghiệp. Sử dụng hồi quy Logistic đơn biến để xác định tỉ số số chênh OR (Odd Ratio) với khoảng tin cậy 95% (KTC 95%) và ý nghĩa thống kê p <0,05. Số chênh OR được báo cáo dựa trên hai tiêu chí: giá trị p<0,05 và KTC 95% không chứa 1. Y đức Nghiên cứu đã được chấp thuận về mặt y đức từ Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh số 108 kí ngày 20/03/2019. KẾT QUẢ Trong số 355 người lao động (NLĐ) tham gia nghiên cứu, đa số NLĐ là nam giới chiếm 83,7%. Chủ yếu NLĐ thuộc độ tuổi từ 31 - 40 tuổi với tỉ lệ là 45,3%. Dân tộc Kinh chiếm hơn 4/5 tổng số mẫu (83,1%), trình độ học vấn với 54,4% là cấp II. Phần lớn NLĐ đều đã kết hôn (76,9%) và đa số NLĐ có 2 người con (42,3%). NLĐ chưa từng hút thuốc lá chiếm đa số với 67,9%. NLĐ hiện tại có hút thuốc lá chiếm tỉ lệ là 28,7% và số điếu thuốc lá hút mỗi ngày phân phối lệch phải với trung vị là 5 điếu thuốc lá và khoảng tứ phân vị tại 25% và 75% lần lượt là 3 điếu và 9 điếu thuốc lá. Tỉ lệ NLĐ có người thân trong gia đình có tiền sử hen phế quản là 2% và viêm mũi dị ứng là 5,1% (Bảng 1). Bảng 1: Đặc tính nền của đối tượng nghiên cứu (n=355) Đặc tính Tần số Tỉ lệ (%) Giới tính Nam 297 83,7 Nữ 58 16,3 Nhóm tuổi < 21 tuổi 16 4,5 21 – 30 tuổi 112 31,6 31 – 40 tuổi 161 45,3 41 – 50 tuổi 62 17,5 > 50 tuổi 4 1,1 Dân tộc Kinh 295 83,1 Khmer 39 11,0 Hoa 2 0,6 Khác (Mường, Tày, Sán Dìu) 19 5,3 Trình độ học vấn Mù chữ 8 2,2 Biết đọc nhưng không biết viết 1 0,3 Cấp I 68 19,2 Cấp II 193 54,4 Cấp III 77 21,7 Trên cấp III 8 2,2 Hút thuốc lá Không hút thuốc 241 67,9 Có hút thuốc 102 28,7 Đã từng hút thuốc 12 3,4 Tiền sử bệnh lý hô hấp gia đình Viêm mũi dị ứng 18 5,1 Hen phế quản 7 2,0 Không 330 92,9 Bảng 2: Đặc điểm nghề nghiệp của đối tượng (n=355) Đặc điểm Tần số Tỉ lệ (%) Bộ phận Sơn 143 40,3 Mộc máy 133 37,5 Lắp ráp 41 11,5 Kho gỗ 17 4,8 Đúc đồng 12 3,4 Kiểm hàng 4 1,1 Bảo trì 4 1,1 Kỹ thuật 1 0,3 Tuổi nghề < 3 năm 161 45,4 3 – <5 năm 65 18,3 5 – 9 năm 87 24,5 > 9 năm 42 11,8 Yếu tố gây khó chịu 1 Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 183 Đặc điểm Tần số Tỉ lệ (%) Không 123 34,7 Bụi 165 46,5 Nhiệt độ cao 100 28,2 Ngột ngạt 21 5,9 Độ ẩm cao 10 2,8 Nấm mốc 6 1,7 Khác (tiếng ồn, mùi sơn) 29 21,1 Sử dụng khẩu trang Có 352 99,2 Không 3 0,8 Bảng 2 cho thấy phần lớn NLĐ làm ở bộ phận mộc máy và bộ phận sơn (lần lượt là 37,5% và 40,3%). NLĐ làm việc dưới 3 năm chiếm tỉ lệ 45,4% (trong đó hơn 1 nửa là lao động dưới 1 năm), nhóm tuổi nghề từ 5 đến 9 năm cũng chiếm tỉ lệ cao 24,5%. Có 65,4% số NLĐ cho là có các yếu tố gây khó chịu trong môi trường làm việc, trong đó yếu tố bụi chiếm tỉ lệ cao nhất 46,5%. Hầu hết các NLĐ đều được trang bị khẩu trang (99,2%). Bảng 3: Tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp (n=355) Đặc tính Tần số Tỉ lệ (%) Bệnh lý hô hấp Viêm phế quản mạn tính 15 4,2 Viêm mũi dị ứng 21 5,9 Viêm họng 10 2,8 Viêm phổi 1 0,3 Không 308 86,8 Bảng 3 thể hiện tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp, trong đó viêm mũi dị ứng chiếm tỉ lệ cao nhất với 5,9%; tỉ lệ bệnh viêm phế quản mạn tính là 4,2%; tỉ lệ viêm họng là 2,8% và tỉ lệ viêm phổi là 0,3%. Bảng 4 cho thấy có mối liên quan giữa tỉ lệ người thuộc dân tộc khác (Mường, Tày, Sán Dìu) có bệnh lý hô hấp là 14,3% và những đối tượng này có tỉ số số chênh mắc bệnh bằng 3,67 lần so với những đối tượng thuộc dân tộc Kinh (KTC 95% 1,32 – 10,19). Những đối tượng thuộc dân tộc khác thì sẽ có số chênh xuất hiện bệnh lý hô hấp càng cao với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,013). Tỉ lệ đối tượng có gia đình có tiền sử bệnh hô hấp có xuất hiện bệnh lý hô hấp là 19,1% với tỉ số số chênh mắc bệnh bằng 4,37 lần so với những đối tượng không có gia đình có tiền sử bệnh hô hấp (KTC 95% 1,49 – 11,74). Những đối tượng có gia đình có tiền sử bệnh hô hấp thì tỉ số số chênh xuất hiện bệnh lý hô hấp càng cao với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,003). Tỉ lệ đối tượng có bệnh lý hô hấp và cảm thấy có yếu tố khó chịu trong môi trường lao động là 83,3% và các đối tượng có tỉ số số chênh mắc bệnh bằng 0,66 lần so với những đối tượng không cảm thấy có yếu tố gây khó chịu (KTC 95% 0,19 – 0,88). Những đối tượng cảm thấy có yếu tố khó chịu trong môi trường lao động thì sẽ có số chênh xuất hiện bệnh lý hô hấp càng giảm với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,009). Các yếu tố khác như giới tính, nhóm tuổi, hút thuốc lá, bộ phận, tuổi nghề cho thấy không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa bệnh lý đường hô hấp. Bảng 4: Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng và bệnh lý đường hô hấp (n=355) Đặc điểm Bệnh hô hấp Giá trị p OR (KTC 95%) Có (%) (n=42) Không (%) (n=313) Giới tính Nam 37 (88,1) 260 (83,1) 0,408 1,51 (0,55 – 5,14) Nữ 5 (11,9) 53 (16,9) 1 Nhóm tuổi 31 – 40 tuổi 22 (52,4) 139 (44,4) 1 ≤ 30 tuổi 14 (33,3) 114 (36,4) 0,486 0,78 (0,38 – 1,59) > 40 tuổi 6 (14,3) 60 (19,2) 0,345 0,63 (0,24 – 1,64) Hút thuốc lá Không hút thuốc 3 (7,1) 9 (2,9) 1 Có hút thuốc 11 (26,2) 91 (29,1) 0,181 2,54 (0,65 – 9,93) Đã từng hút thuốc 28 (66,7) 213 (68,0) 0,824 0,92 (0,44 – 1,93) Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 184 Đặc điểm Bệnh hô hấp Giá trị p OR (KTC 95%) Có (%) (n=42) Không (%) (n=313) Dân tộc Kinh 29 (69,0) 266 (85,0) 1 Khmer 7 (16,7) 32 (10,2) 0,131 2,01 (0,81 – 4,95) Khác 6 (14,3) 15 (4,8) 0,013 3,67 (1,32 – 10,19) Tiền sử bệnh lý hô hấp gia đình 2 Có 8 (19,1) 16 (5,1) 0,003 4,37 (1,49 – 11,74) 1 Không 34 (80,9) 297 (94,9) Yếu tố gây khó chịu Có 35 (83,3) 197 (62,9) 0,009 0,66 (0,19 – 0,88) 1 Không 7 (16,7) 116 (37,1) Bộ phận Mộc máy 14 (33,3) 119 (38,0) 0,926 1,04 (0,42 – 2,61) Sơn 20 (47,6) 123 (39,3) 0,409 1,44 (0,69 – 3,45) Khác 8 (19,1) 71 (22,7) 1 Tuổi nghề < 3 năm 20 (47,6) 141 (45,1) 1 3 – <5 năm 8 (19,1) 57 (18,2) 0,981 0,99 (0,41 – 2,38) 5 – 9 năm 11 (26,2) 76 (24,3) 0,960 1,02 (0,46 – 2,24) > 9 năm 3 (7,1) 39 (12,4) 0,343 0,54 (0,15 – 1,91) 2Kiểm định chính xác Fisher Nồng độ bụi toàn phần tại công ty dao động 3,00 2,6 (mg/m3), nồng độ bụi thấp nhất là 0,35 mg/m3 và cao nhất là 9,29 mg/m3. Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan giữa bụi toàn phần và bệnh lý đường hô hấp của người lao động như viêm phế quản mạn tính, viêm mũi dị ứng, viêm họng và viêm phổi (p >0,1) (Bảng 5). Bảng 5: Mối liên quan giữa bệnh lý đường hô hấp và bụi toàn phần bằng hồi quy Logistic đơn biến (n=355) Đặc điểm OR (KTC 95%) Giá trị p Viêm phế quản mạn tính 1,15 (0,82 – 1,61) 0,420 Viêm mũi dị ứng 1,09 (0,81 – 1,46) 0,307 Viêm họng 0,81 (0,51 – 1,29) 0,373 Viêm phổi 1,95 (0,80 – 4,74) 0,140 BÀN LUẬN Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố trong môi trường lao động liên quan đến các triệu chứng hô hấp được thực hiện rất nhiều trên thế giới như nghiên cứu của tác giả Chaiear (Thái Lan, 2018), Soongkhang (Thái Lan, 2015), Thetkathuek (Thái Lan, 2010), Neghab (Iran, 2018)(6,7,8,9). Những nghiên cứu này cho thấy được các tác động xấu đến sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe hô hấp phụ thuộc vào giới tính, độ tuổi, tuổi nghề (tuổi lao động) và loại bụi có trong môi trường lao động(6,9). Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung đánh giá triệu chứng hô hấp và chức năng hô hấp của NLĐ, trong đó đánh giá các triệu chứng như ho, khạc đờm, khó thở, thở khò khè (6,8,11). Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp và xem xét mối liên quan với các yếu tố cá nhân và các yếu tố liên quan đến nghề nghiệp của NLĐ. Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn kết hợp đo đạc nồng độ bụi toàn phần tại công ty. Nồng độ bụi toàn phần đo được thấp hơn trong nghiên cứu của Nguyễn Bích Diệp và cộng sự (2008) khoảng 9,3 – 10,3 mg/m3(2). Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Michael và cộng sự (2009) làm tại nhà máy gỗ Alberta. Cụ thể, nồng độ bụi toàn phần trung bình trong nghiên cứu này cao gấp 28 lần tại nhà máy gỗ Alberta(10). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, các bệnh hô hấp NLĐ thường gặp bao gồm bệnh viêm mũi dị ứng, viêm phế quản mạn tính, viêm họng và viêm phổi. Tuy nhiên, tỉ lệ các bệnh này là rất thấp, cao nhất là bệnh viêm mũi dị ứng với tỉ lệ 5,9%. Ở các nghiên cứu khác, triệu chứng hô hấp chủ yếu là ho kéo dài, khạc đờm, khó thở hoặc Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 185 thở khò khè(6,8,11). Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan giữa bệnh lý đường hô hấp và hầu hết các yếu tố như giới tính, độ tuổi, hút thuốc lá, tuổi nghề. Bên cạnh đó, nghiên cứu tìm thấy mối liên quan mạnh giữa dân tộc và bệnh lý đường hô hấp. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác chưa khai thác sâu về vấn đề dân tộc và chúng tôi vẫn chưa tìm thấy lời giảỉ thích phù hợp cho mối liên quan này. Tiền sử bệnh lý đường hô hấp của gia đình cũng cho thấy mối liên quan đến bệnh lý đường hô hấp. Viêm mũi dị ứng gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe, làm ảnh hưởng đến năng suất làm việc của người lao động(12). Tuy nhiên, khác với nghiên cứu của Chaiear và cộng sự (2018) không tìm thấy mối liên quan giữa tiền sử hô hấp đình và bệnh hen suyễn(6). Điều này có thể giải thích là do thiết kế nghiên cứu cắt ngang chỉ phản ánh được trong một thời điểm và có thể có xuất hiện Hiệu ứng công nhân khỏe gây sai lệch khi đo lường. Bên cạnh đó, nghiên cứu có thể đã bỏ sót một số đối tượng mắc bệnh hô hấp từ chối thực hiện chức năng hô hấp và đối với thời gian tiếp xúc ngắn của NLĐ với bụi gỗ tại công ty sẽ dễ gây nên các triệu chứng hô hấp hơn là các bệnh đường hô hấp dưới (viêm phế quản, hen suyễn). Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan giữa bụi toàn phần và viêm họng. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp năm 2018 cho thấy mối liên quan trực tiếp giữa phơi nhiễm bụi gỗ và ung thư vòm họng (OR = 1,5; KTC 95% 1,09 - 2,07). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tuy chưa tìm thấy mối liên quan, nhưng nguyên nhân được dự đoán là do thiết kế nghiên cứu cắt ngang chỉ thực hiện tại một thời điểm nên không đánh giá được tình trạng bệnh. Vì vậy, cần tiến hành một số nghiên cứu có tính chất lâu dài như nghiên cứu đoàn hệ hoặc đánh giá tác động sức khỏe để xem xét chiều tác động của bụi đến viêm họng. Nghiên cứu còn có một số điểm hạn chế. Thứ nhất, nghiên cứu chỉ thực hiện đánh giá tình trạng sức khỏe với một nhóm nhỏ đối tượng tham gia và đo nồng độ bụi toàn phần của một công ty. Thứ hai, việc đo nồng độ bụi toàn phần chưa đánh giá được mức độ bụi ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe. Thứ ba, giống như đa số các nghiên cứu khác, nghiên cứu chúng tôi sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang nên ảnh hưởng của “Hiệu ứng công nhân khỏe” là không thể tránh khỏi. Điểm mạnh của nghiên cứu là kết hợp khai thác tình trạng bệnh lý đường hô hấp của NLĐ và đo nồng độ bụi toàn phần tại nơi làm việc của đối tượng nhằm đánh giá đúng mối liên quan giữa bệnh lý đường hô hấp và bụi gỗ tại công ty. KẾT LUẬN Tỉ lệ bệnh lý đường hô hấp là 11,8%. Trong đó, 5,9% mắc bệnh viêm mũi dị ứng; 2,8% có viêm họng; 4,2% viêm phế quản mạn tính và 0,3% viêm phổi. Nghiên cứu cho thấy bụi gỗ cũng là một yếu tố góp phần ảnh hưởng đến bệnh lý đường hô hấp. Vì vậy duy trì khám sức khỏe định kỳ và thực hiện quan trắc môi trường lao động là cần thiết để kiểm soát các yếu tố nguy hại trong môi trường làm việc tại các cơ sở chế biến gỗ. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. International Labour Organization (2013). ILO calls for urgent global action to fight occupational diseases. URL: https://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformat ion/Pressreleases/WCMS_211708/lang--en/index.htm. 2. Nguyễn Bích Diệp, Doãn Ngọc Hải (2008). “Thực trạng an toàn vệ sinh lao động tại một làng nghề sản xuất đồ mỹ nghệ thuộc tỉnh Bắc Ninh năm 2008”. Y học Dự phòng, pp.169. 3. Phạm Hoài Thương (2018). “Nghiên cứu đánh giá một số tác động chính tới môi trường của dự án sản xuất đồ gỗ”. Khóa luận Tốt nghiệp Môi trường, Đại học Dân lập Hải Phòng. 4. Bộ Thương binh và xã hội, Bộ Y Tế (1976). “Quy định một số bệnh nghề nghiệp và chế độ đãi ngộ công nhân viên chức nhà nước mắc bệnh nghề nghiệp”. Tổng Công đoàn Việt Nam. 5. Wang AH, Leng PB, Bia GL, et al (2016). “The application of two occupation health risk assessment models in a wooden furniture manufacturing industry”. Zhonghua Lao Dong Wei Sheng Zhi Ye Bing Za Zhi, pp.756-761. 6. Chaiear N, Ngoencharee J, Saejiw N (2018). “Respiratory Symptoms and Pulmonary Function among Workers in a Rubber Wood Sawmill Factory in Thailand”. American Journal of Public Health Research, pp.65-71. 7. Neghab M, Jabari Z, Shouroki FK (2018). “Functional disorders of the lung and symptoms of respiratory disease associated with occupational inhalation exposure to wood dust in Iran”. Epidemiol Health, pp.40. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 186 8. Soongkhang I, Laohasiriwong W (2015). “Respiratory Tract Problems among Wood Furniture Manufacturing Factory Workers in the Northeast of Thailand”. Kathmandu Univ Med J, pp.125-129. 9. Thetkathuek A, Yingratanasuk T, Demers PA, et al (2010). “Rubberwood dust and lung function among Thai furniture factory workers”. Int J Occup Environ Health, pp.69-74. 10. Yamanaka MW, Guidotti TL, Koehncke N, et al (2009). “Wood dust levels in Alberta sawmills”. Arch Environ Occup Health, pp.270-277. 11. Mohan M, PanwarNK (2013). “Effect of wood dust on respiratory health status of carpenters”. J Clin Diagn Res, pp.1589-1591, . 12. Centers for Disease Control and Prevention (CDC) (2017). Sinus Infection. URL: https://www.cdc.gov/antibiotic- use/community/for-patients/common-illnesses/sinus- infection.html. Ngày nhận bài báo: 02/10/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 06/12/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020
File đính kèm:
bui_go_va_benh_ly_duong_ho_hap_o_mot_cong_ty_che_bien_go_tin.pdf

