Biểu hiện rối loạn lo âu và mối tương quan với các hành vi sức khỏe của học sinh Trung học Phổ thông công lập thành phố Đà Nẵng
Đặt vấn đề: Lo âu là hiện tượng tự nhiên, hết sức bình thường của con người khi gặp khó khăn. Nhưng khi
các biểu hiện lo âu ở mức độ rất nặng và thường xuyên thì có thể đó là lo âu bệnh lý. Những người có triệu
chứng rối loạn lo âu đã được tìm thấy có nguy cơ cao mắc các bệnh mạch vành, các vấn đề về tiêu hóa, chứng đau
nửa đầu và tuyến giáp. Học sinh là đối tượng dễ bị rối loạn lo âu bởi các nguyên nhân như áp lực học tập, hay
các mâu thuẫn với bạn bè hoặc cha mẹ. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu tại Đà Nẵng.
Mục tiêu: (1). Xác định tỷ lệ các đặc điểm lo âu của học sinh. (2). Mối tương quan giữa lo âu với các hành vi
sức khỏe của học sinh
Bạn đang xem tài liệu "Biểu hiện rối loạn lo âu và mối tương quan với các hành vi sức khỏe của học sinh Trung học Phổ thông công lập thành phố Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Biểu hiện rối loạn lo âu và mối tương quan với các hành vi sức khỏe của học sinh Trung học Phổ thông công lập thành phố Đà Nẵng
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 167 BIỂU HIỆN RỐI LOẠN LO ÂU VÀ MỐI TƯƠNG QUAN VỚI CÁC HÀNH VI SỨC KHỎE CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Nguyễn Thị Mỹ Anh*, Bùi Thị Hạnh* TÓM TẮT Đặt vấn đề: Lo âu là hiện tượng tự nhiên, hết sức bình thường của con người khi gặp khó khăn. Nhưng khi các biểu hiện lo âu ở mức độ rất nặng và thường xuyên thì có thể đó là lo âu bệnh lý. Những người có triệu chứng rối loạn lo âu đã được tìm thấy có nguy cơ cao mắc các bệnh mạch vành, các vấn đề về tiêu hóa, chứng đau nửa đầu và tuyến giáp. Học sinh là đối tượng dễ bị rối loạn lo âu bởi các nguyên nhân như áp lực học tập, hay các mâu thuẫn với bạn bè hoặc cha mẹ. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu tại Đà Nẵng. Mục tiêu: (1). Xác định tỷ lệ các đặc điểm lo âu của học sinh. (2). Mối tương quan giữa lo âu với các hành vi sức khỏe của học sinh. Đối tượng và phương pháp: điều tra cắt ngang trên 457 học sinh trung học phổ thông công lập tại thành phố Đà Năng. Kết quả: 53,4% học sinh có rối loạn lo âu. Trong đó, tỷ lệ học sinh có lo âu nặng và rất nặng là 13,1% và 7,9%. Đặc điểm lo lắng nhưng dịu lại khi việc qua đi và lo lắng khi gặp tình huống hoảng sợ có tỷ lệ cao. Có mối tương giữa lo âu với các hành vi sử dụng thuốc lá và bia rượu của học sinh. Kết luận: Học sinh có rối loạn lo âu cần được quan tâm và can thiệp sớm bằng các chương trình giáo dục phù hợp để nâng cao nhận thức của các em và giảm các hành vi tiêu cực như mâu thuẫn với bạn bè hoặc sử dụng các chất kích thích. Từ khóa: rối loạn lo âu, chất kích thích ABSTRACT EXPRESSION OF ANXIETY DISORDERS AND CORRELATION WITH HEALTH BEHAVIORS OF PUBLIC HIGH SCHOOLS STUDENTS IN ĐA NANG CITY Nguyen Thi My Anh, Bui Thi Hanh * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 167 - 173 Background: Anxiety is a natural and normal problem of everyone when they have troubles. However, when frequency of expression is too heavy and regularly, It become pathological. People who have symptoms of anxiety disorders, they often have at high risk for coronary artery disease, digestive problems, migraine diease and thyroid diseases. Students are particularly vulnerable to anxiety disorders. There are many factors leader anxiety disorders for example; study pressure, conflicts with friends or parents. Therefore, we conducted the study in Da Nang. Objectives: (1) Determine the rate of anxiety characteristics. (2) The correlation between anxiety disorders and health behaviors of students. Methods: Cross-sectional study and using DASS 42 scale on 457 students. Results: Anxiety is 53.4% including heavy and very heavy level is 13.1% và 7.9%. Symptoms anxiety but subside when the problem is over and anxiety when facing a panic situation with a high rate. There correlation between anxiety disorders and health behaviors as used alcohol, smoke. *Trường đại Học kỹ Thuật Y – Dược Đà Nẵng Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Thị Mỹ Anh Email: [email protected] Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 168 Conclusion: Students with anxiety disorders need attention and early intervention with appropriate educational programs to raise their awareness and reduce negative behaviors such as conflict with friends or use of drugs. Keywords: anxiety disorders, drugs ĐẶT VẤN ĐỀ Lo âu là hiện tượng tự nhiên, hết sức bình thường của con người khi họ gặp những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống(1). Những người có triệu chứng của rối loạn lo âu đã được tìm thấy có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch, các vấn đề tiêu hóa, chứng đau nửa đầu, bệnh tuyến giáp(2). Theo khảo sát sức khỏe tâm thần thế giới, trong vòng một năm, trung bình 12% dân số thế giới có rối loạn lo âu có thể chẩn đoán được. Những người trải qua các rối loạn lo âu sớm sẽ có một tuổi trưởng thành sớm hơn so với tuổi thật của họ. Tại Việt Nam, thực trạng lo âu đối với đối tượng học sinh trung học phổ thông đang ngày được quan tâm và chú ý tới. Cụ thể là các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nguyễn Đại Hành và Kiều Thị Thanh Trà(3,4,5,6). Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Biểu hiện rối loạn lo âu và mối tương quan với các hành vi sức khỏe của học sinh trung học phổ thông công lập thành phố Đà Nẵng” với 2 mục tiêu: Xác định tỷ lệ các đặc điểm lo âu của học sinh THPT công lập thành phố Đà Nẵng. Tìm hiểu mối tương quan giữa lo âu với các hành vi sức khỏe của học sinh. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu 437 học sinh tại 7 trường trung học phổ thông (THPT) công lập ở Thành phố Đà Nẵng: trường Thái Phiên, Nguyễn Hiền, Ngũ Hành Sơn, Hoàng Hoa Thám, Hòa Vang, Liên Chiểu, Phan Thành Tài từ tháng 10/2017-9/2018. Tiêu chuẩn lựa chọn Được sự đồng ý của học sinh tham gia trả lời bộ câu hỏi. Có mặt tại lớp trong thời điểm phỏng vấn. Tiêu chuẩn loại trừ Không hợp tác. Trả lời không đủ số liệu trong bảng câu hỏi. Có kết luận y tế là rối loạn tâm lý. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang Cỡ mẫu Áp dụng công thức: = . . (1 − ) = 1,96. 0,24. (1 − 0,24) 0,04 Z=1,96: trị số tùy thuộc vào mức tin cậy mong muốn của ước lượng. Mức tin cậy mong muốn là 95% thì Z=1,96. d=0,04: mức sai lệch mong muốn là 5%. P: Tham số ước đoán chưa biết. Theo nghiên cứu của tác giả Lê Minh Thuận thấy rằng đối tượng nghiên cứu có rối nhiễu tâm lý như là trầm cảm với mức nặng là 15%, rất nặng là 9% trên mẫu nghiên cứu 388. Do vậy, p = 0,24 (p: tỷ lệ nặng và rất nặng). Tính được n=437. Ta lấy thêm 10% dự trù. Kết quả cuối cùng sau khi điều tra là n=457. Phương pháp chọn mẫu Phương pháp chọn mẫu chùm 4 giai đoạn và chọn ngẫu nhiên. - Giai đoạn 1: Chọn 7 quận huyện thành tại thành phố Đà Nẵng gồm quận Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ và huyện Hòa Vang. - Giai đoạn 2: Chọn ngẫu nhiên 7 trường đại diện của 7 quận huyện bao gồm trường Nguyễn Hiền, Thái Phiên, Hoàng Hoa Thám, Ngũ Hành Sơn, Hòa Vang và Phan Thành Tài. - Giai đoạn 3: Chọn khối lớp theo cách phân loại ban học trong mỗi trường. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 169 - Giai đoạn 4: Sau đó, chọn ngẫu nhiên học sinh từ danh sách theo hệ thống khoảng cách là 6 (1/6) theo công thức = và được chọn dựa trên thực tế số lượng học sinh có mặt tại thời điểm nghiên cứu. KẾT QUẢ Tỷ lệ học sinh THPT có rối loạn lo âu và mức độ biểu hiện cụ thể Tỷ lệ học sinh có rối loạn lo âu Tỷ lệ học sinh có rối loạn lo âu là 53,4 % và không có rối loạn lo âu là 46,6%. Mức độ cụ thể của rối loạn lo âu Rối loạn lo âu ở mức độ vừa có tỷ lệ cao nhất 21,2% và mức độ rất nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất 7,9% (Hình 1). Các đặc điểm nhân khẩu của đối tượng và các yếu tố liên quan Các đặc điểm nhân khẩu học Trong nghiên cứu, tỷ lệ nữ là 61,5% cao hơn nam, học sinh ở thành phố là 86,4% và sống với cha mẹ là chủ yếu với 87,7%, 56,0% không theo tôn giáo và 81,6% là gia đình sống cùng nhau (Bảng 1). Bảng 1: Thông tin đặc điểm nhân khẩu của đối tượng Nội dung n % Giới tính Nam 176 38,5 Nữ 281 61,5 Tôn giáo Phật 183 40,0 Thiên chúa 13 2,8 Không 256 56,0 Khác 5 1,1 Tình trạng gia đình Sống cùng nhau 373 81,6 Ly thân 37 8,1 Ly hôn 14 3,1 Khác 33 7,2 Tỷ lệ các biểu hiện lo âu Trong các biểu hiện của lo âu có biểu hiện cao nhất như là lo lắng và dịu lại khi sự việc sẽ qua đi 84,5%, vaflo lắng với các tình huống làm hoảng sợ là 70,2%, thấp nhất là cảm thấy khó nuốt (Hình 2). Hình 1: Mức độ cụ thể của rối loạn lo âu Hình 2: Các biểu hiện lo âu 0 20 40 60 80 100 Tôi bị khô miệng Cảm giác bị rung tay chân Bị đổ mồ hôi không do trời nóng hay việc năng Thấy khó nuốt Thấy sợ với những việc bình thường trước hay là Lo lắng với tình huống có thể làm hoảng sợ 58,2 39,4 56 84,5 39,4 53,8 26,9 38,5 55,4 32,4 70,2 49 Biểu hiện lo âu 46.6% 11.6% 21.2% 13.1% 7.9% Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 170 Các yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu của đối tượng nghiên cứu So sánh giới tính và lo âu chung Bảng 2: Đặc điểm giới tính và lo âu chung Đặc điểm n (%) Mean/SD p Nam 75(42,6) 1,09±1,38 <0,001 Nữ 169(60,1) 1,35±1,33 Tổng 244(53,4%) 1,33±1,34 Có sự khác biệt về lo âu giữa nữ và nam với p <0,05. Tỷ lệ nữ có lo âu là 60,1% cao hơn nam 1,4 lần (Bảng 2). So sánh giới tính và mức độ lo âu cụ thể Bảng 3: Giới tính và mức độ lo âu cụ thể Giới tính Nhẹ n(%) Vừa n(%) Nặng n(%) R.Nặng n(%) p Nam 12(6,8) 32(18,2) 20(11,4) 14(8,0) < 0,05 Nữ 41(14,6) 65(23,1) 40(14,2) 22(7,8) Tổng 53(11,6) 97(21,2) 60(13,1) 36(7,9) Có sự khác biệt về mức độ lo âu cụ thể giữa nam và nữ với p <0,05 có ý nghĩa thống kê. Trong đó, tỷ lệ lo âu nặng và rất nặng của nữ chiếm tỷ lệ 22,0% và nam là 19,4% (Bảng 3). Mối liên quan giữa tôn giáo với lo âu Bảng 4: Tôn giáo và lo âu Đặc điểm n (%) Mean/SD p Phật 97(39,8) 1,53±0,50 >0,05 Thiên chúa 6(2,5) 1,46±0,51 Không 137(56,1) 1,55±0,50 Khác 4(1,6) 1,80±0,44 Tổng 244(53,4%) 1,53±0,50 Không có mối liên quan giữa tôn giáo với lo âu của học sinh vì p >0,05 không có ý nghĩa thống kê nhưng xét về con số thì tỷ lệ lo âu ở học sinh không theo tôn giáo là cao nhất 56,1% (Bảng 4). Mối liên quan giữa tình trạng gia đình với lo âu Bảng 5: Tình trạng gia đình và lo âu Đặc điểm n (%) Mean/SD p Sống cùng nhau 190(77,9) 1,51±0,50 >0,05 Ly thân 21(8,6) 1,57±0,50 Ly hôn 10(4,1) 1,71±0,47 Khác 23(9,4) 1,70±0,47 Tổng 244(53,4%) 1,53±0,50 Không có mối liên quan giữa tình trạng gia đình với lo âu của học sinh vì p >0,05 không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, xét về số lượng thì tỷ lệ học sinh ở gia đình sống cùng nhau lại có tỷ lệ lo âu cao 77,9% (Bảng 5). Mối liên quan giữa các mâu thuẫn cá nhân với lo âu Bảng 6: Mâu thuẫn cá nhân và lo âu Đặc điểm n(%) Mean/SD p Hiện tại đang mâu thuẫn với bạn 38 (15,6) 1.17±0.36 <0,001 Mâu thuẫn với ai đó 71 (29,1) 1.29±0.45 Mâu thuẫn trong tình cảm 37 (15,2) 1.15±0.35 Sự kỳ vọng với cha mẹ 130 (76,0) 1,53±0.50 Có mối liên quan giữa các mẫu thuẫn của học sinh với rối loạn lo âu. Trong đó, yếu tố mâu thuẫn với ai liên quan đến tỷ lệ lo âu của học sinh là 29,1% (Bảng 6). Mối liên quan giữa hành vi sử dụng internet với lo âu Bảng 7: Hành vi sử dụng internet và lo âu cụ thể Internet Nhẹ n(%) Vừa n(%) Nặng n(%) R.Nặng n(%) p Không 11(14,5) 11(14,5) 11(14,5) 8(10,5) > 0,05 Có 42(11,0) 86(22,6) 40(12,9) 49(7,3) Tổng 53(11,6) 97(21,2) 60(13,1) 36(7,9) Không có mối liên quan giữa sử dụng internet với lo âu của học sinh vì p >0,05 không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên xét về mặt phân tích con số thì khi học sinh có dùng internet thì tỷ lệ lo âu ở mức độ nặng và rất nặng là 12,9% và 7,3% (Bảng 7). Mối tương quan giữa lo âu với hành vi sử dụng bia rượu Có mối tương quan giữa lo âu với hành vi sử dụng bia rượu của học sinh với p 0 nên đây là tương quan thuận, khi học sinh có lo âu có thể dẫn đến hành vi bia rượu (Hình 3). Mối tương quan giữa lo âu với hành vi hút thuốc Có mối tương quan giữa rối loạn lo âu với hành vi sử dụng thuốc lá của học sinh với p0. Nên đây là tương quan thuận khi học sinh càng có lo âu thì càng tăng hành vi sử dụng thuốc lá (Hình 4). Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 171 Hình 3: Tương quan giữa hành vi sử dụng bia rượu và lo âu Hình 4: Tương quan giữa lo âu và hành vi hút thuốc BÀN LUẬN Các đặc điểm chung và tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu Giới tính Tỷ lệ nữ cao hơn nam 1,5 lần, đặc điểm này cũng giống với các nghiên cứu Trần Thị Thu Mai(3), Nguyễn Thị Vân(5). Do số lượng học sinh ở các ban học xã hội cao hơn ban tự nhiên trong hầu hết các trường trong khi nhóm nghiên cứu chọn mẫu ngẫu nhiên trong các lớp của phương pháp chùm. So sánh tỷ lệ lo âu của nữ là 60,1% cao hơn nam là 42,6% cũng giống nghiên cứu của 2 tác giả trên. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân tỷ lệ nữ là 54,0% nam là 46,0%, tỷ lệ lo âu nặng và rất nặng của nữ chiếm tỷ lệ 22,0% và nam là 19,4% giống với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đại Hành(6) là 29,3% và 35,6%. Hầu như, các nghiên cứu về lo âu đều chứng minh nữ có lo âu nhiều hơn nam vì tâm lý của nữ và nam có p = 0,002 R= 0,047 p<0,05 R=0,043 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 172 khác biệt, nữ luôn lo âu với mọi tình huống xảy ra với mình trong khi nam giới thì ngược lại luôn bình tĩnh trong mọi tình huống ứng xử. Tình trạng gia đình Tỷ lệ học sinh có gia đình sống cùng nhau chiếm tỷ lệ cao 81,6%, tỷ lệ còn lại thuộc về tình trạng sống thiếu cha hoặc mẹ 18,4% gần giống nghiên cứu của Nguyễn Đại Hành có tỷ lệ 90,0% và 10,0%(6). Tuy nhiên lại không có mối liên quan về tình trạng gia đình với lo âu của học sinh. Lý do vì độ tuổi này học sinh chưa phải là đối tượng hoàn toàn độc lập trong các sinh hoạt hằng ngày nên đa phần học sinh sống với cha mẹ nhưng đây cũng không phải là yếu tố chính dẫn đến lo âu của học sinh. Tỷ lệ lo âu chung trong nghiên cứu của chúng tôi là 53,4 % cao hơn tác giả Wong JG có lo âu 41% khi nghiên cứu trên đối tượng sinh viên, cao hơn tác giả Nguyễn Hằng Phương với tỷ lệ là (21,6%). Xu hướng giới trẻ đặc biệt là trẻ tuổi vị thành niên đang báo động về các đặc điểm tâm lý bất ổn trong môi trường có nhiều thay đổi, trong khi cách tiếp cận của học sinh rất nhanh nên cũng dễ bị tổn thương. Trong khi mẫu nghiên cứu được thực hiện tại ở nhiều trường tại thành phố Đà Nẵng, một thành phố tương đối trẻ với nhiều đổi thay về dân số và môi trường nên sẽ có nhiều áp lực cho học sinh. Các mối tương quan giữa lo âu và các hành vi của học sinh Các yếu tố mâu thuẫn của học sinh với thực trạng lo âu: Với tỷ lệ kỳ vọng của cha mẹ là 76,0%, mâu thuẫn với ai đó 29,1% giống nghiên cứu của Deb, (2010) nguyên nhân chính của sự RLLA ở thanh thiếu niên Ấn Độ cao là do kì vọng của cha mẹ. Sự bất đồng trong tâm lý giữa bố mẹ và con cái ở độ tuổi này thường diễn ra sâu sắc, hay có sự kỳ vọng cũng như nảy sinh các mâu thuẫn trong mối quan hệ bố mẹ và con cái khiến trẻ hay có những suy nghĩ tiêu cực nặng thì dễ có nguy cơ tự sát hoặc nhẹ thì thường xuyên có biểu hiện căng thẳng lo lắng. Độ tuổi với nhiều nét tâm lý bốc đồng nổi loạn cũng xuất hiện nhiều mâu thuẫn trong tình bạn hoặc với ai đó, cách ứng xử thiếu kiểm soát về mặt cảm xúc gia tăng tình trạng lo lắng trên học sinh. Yếu tố tương quan giữa lo âu với các hành vi sử dụng rượu bia và thuốc lá: Mặc dù, đối tượng rất ít có biểu hiện hành vi sử dụng bia rượu và thuốc lá vì hầu hết nữ chiếm tỷ lệ cao hơn so với nam trong tổng số mẫu nghiên cứu 457 nhưng có mối tương quan thuận giữa lo âu với hành vi trên. Khi học sinh có lo âu thì hành vi bia rượu và hút thuốc cao với r >0 và p <0,05 giống nghiên cứu của tác giả Lê Minh Thuận tỷ lệ sinh viên có lo âu thì hành vi sử dụng bia rượu và thuốc lá cũng cao. mặc dù nghiên cứu này chưa định lượng được số lượng bia rượu học sinh dùng nhưng đều có mối tương quan lẫn nhau giữa lo âu và các hành vi không tốt trên học sinh. Yếu tố liên quan giữa hành vi sử dụng internet với lo âu: Không có mối liên quan hành vi sử dụng internet với lo âu khác biệt so với nghiên cứu của Lê Minh Thuận là vì đối tượng nghiên cứu trên sinh viên nên tỷ lệ sử dụng mạng để học tập và nghiên cứu cũng cao hơn đối tương học sinh. Do đó, mới có sự khác biệt, nhóm chưa tìm ra hướng nghiên cứu trên cùng đối tượng thể hiện mối liên quan giữa hành vi này với lo âu trên mẫu nghiên cứu học sinh. KẾT LUẬN Tỷ lệ học sinh có rối loạn lo âu là 53,4%. Trong đó, lo âu ở mức độ nặng là 13,1%, rất nặng là 7,9%. Nữ có tỷ lệ rối loạn lo âu 60,1% cao hơn so với nam 42,6%. Biểu hiện lo lắng và dịu lại khi sự việc qua đi và lo lắng với các tình huống làm hoảng sợ có tỷ lệ cao nhất. Các yếu tố mâu thuẫn của học sinh có liên quan đến lo âu. Lo âu cũng tương quan với các hành vi hút thuốc và sử dụng bia rượu của học sinh. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ngô Thị Liên (2013). “Thực trạng biểu hiện lo âu của hoc sinh Trung học phổ thông huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội”. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 173 Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Trường Đại học Giáo dục, Đại Học Quốc Gia Hà Nội. 2. Mental health awareness week 2014. “Living with anxiety- understanding the role and impact of anxiety in our live”. URL: https://www.bl.uk/collection-items/living-with-anxiety- understanding-the-role-and-. 3. Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Ngọc Duy (2015). “Rối loạn lo âu của học sinh một số trường sư phạm tại Thành phố Hồ chí Minh”. Khoa học Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh, 486. 4. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2013). “Nghiên cứu biểu hiện của rối loạn lo âu ở học sinh trường trung học cơ sở Phương Mai-Hà Nội khi sống trong gia đình có bạo lực”. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Trường Đại học Giáo dục, Đại Học Quốc Gia Hà Nội. 5. Nguyễn Thị Vân (2018). “Mức độ lo âu của học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh”. Khoa học, 15(1):117-127. 6. Lê Đại Hành (2013). “Rối loạn lo âu của học sinh trung học phổ thông huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang”. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Trường Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh. Ngày nhận bài báo: 02/08/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020
File đính kèm:
bieu_hien_roi_loan_lo_au_va_moi_tuong_quan_voi_cac_hanh_vi_s.pdf

