Biểu hiện rối loạn lo âu và mối tương quan với các hành vi sức khỏe của học sinh Trung học Phổ thông công lập thành phố Đà Nẵng

Đặt vấn đề: Lo âu là hiện tượng tự nhiên, hết sức bình thường của con người khi gặp khó khăn. Nhưng khi

các biểu hiện lo âu ở mức độ rất nặng và thường xuyên thì có thể đó là lo âu bệnh lý. Những người có triệu

chứng rối loạn lo âu đã được tìm thấy có nguy cơ cao mắc các bệnh mạch vành, các vấn đề về tiêu hóa, chứng đau

nửa đầu và tuyến giáp. Học sinh là đối tượng dễ bị rối loạn lo âu bởi các nguyên nhân như áp lực học tập, hay

các mâu thuẫn với bạn bè hoặc cha mẹ. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu tại Đà Nẵng.

Mục tiêu: (1). Xác định tỷ lệ các đặc điểm lo âu của học sinh. (2). Mối tương quan giữa lo âu với các hành vi

sức khỏe của học sinh

pdf 7 trang phuongnguyen 700
Bạn đang xem tài liệu "Biểu hiện rối loạn lo âu và mối tương quan với các hành vi sức khỏe của học sinh Trung học Phổ thông công lập thành phố Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Biểu hiện rối loạn lo âu và mối tương quan với các hành vi sức khỏe của học sinh Trung học Phổ thông công lập thành phố Đà Nẵng

Biểu hiện rối loạn lo âu và mối tương quan với các hành vi sức khỏe của học sinh Trung học Phổ thông công lập thành phố Đà Nẵng
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 167 
BIỂU HIỆN RỐI LOẠN LO ÂU VÀ MỐI TƯƠNG QUAN 
VỚI CÁC HÀNH VI SỨC KHỎE CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 
CÔNG LẬP THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 
Nguyễn Thị Mỹ Anh*, Bùi Thị Hạnh* 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Lo âu là hiện tượng tự nhiên, hết sức bình thường của con người khi gặp khó khăn. Nhưng khi 
các biểu hiện lo âu ở mức độ rất nặng và thường xuyên thì có thể đó là lo âu bệnh lý. Những người có triệu 
chứng rối loạn lo âu đã được tìm thấy có nguy cơ cao mắc các bệnh mạch vành, các vấn đề về tiêu hóa, chứng đau 
nửa đầu và tuyến giáp. Học sinh là đối tượng dễ bị rối loạn lo âu bởi các nguyên nhân như áp lực học tập, hay 
các mâu thuẫn với bạn bè hoặc cha mẹ. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu tại Đà Nẵng. 
Mục tiêu: (1). Xác định tỷ lệ các đặc điểm lo âu của học sinh. (2). Mối tương quan giữa lo âu với các hành vi 
sức khỏe của học sinh. 
Đối tượng và phương pháp: điều tra cắt ngang trên 457 học sinh trung học phổ thông công lập tại thành 
phố Đà Năng. 
Kết quả: 53,4% học sinh có rối loạn lo âu. Trong đó, tỷ lệ học sinh có lo âu nặng và rất nặng là 13,1% và 
7,9%. Đặc điểm lo lắng nhưng dịu lại khi việc qua đi và lo lắng khi gặp tình huống hoảng sợ có tỷ lệ cao. Có mối 
tương giữa lo âu với các hành vi sử dụng thuốc lá và bia rượu của học sinh. 
Kết luận: Học sinh có rối loạn lo âu cần được quan tâm và can thiệp sớm bằng các chương trình giáo dục 
phù hợp để nâng cao nhận thức của các em và giảm các hành vi tiêu cực như mâu thuẫn với bạn bè hoặc sử dụng 
các chất kích thích. 
Từ khóa: rối loạn lo âu, chất kích thích 
ABSTRACT 
EXPRESSION OF ANXIETY DISORDERS AND CORRELATION WITH HEALTH BEHAVIORS OF 
PUBLIC HIGH SCHOOLS STUDENTS IN ĐA NANG CITY 
Nguyen Thi My Anh, Bui Thi Hanh 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 167 - 173 
Background: Anxiety is a natural and normal problem of everyone when they have troubles. However, 
when frequency of expression is too heavy and regularly, It become pathological. People who have symptoms 
of anxiety disorders, they often have at high risk for coronary artery disease, digestive problems, migraine 
diease and thyroid diseases. Students are particularly vulnerable to anxiety disorders. There are many factors 
leader anxiety disorders for example; study pressure, conflicts with friends or parents. Therefore, we 
conducted the study in Da Nang. 
Objectives: (1) Determine the rate of anxiety characteristics. (2) The correlation between anxiety disorders 
and health behaviors of students. 
Methods: Cross-sectional study and using DASS 42 scale on 457 students. 
Results: Anxiety is 53.4% including heavy and very heavy level is 13.1% và 7.9%. Symptoms anxiety but 
subside when the problem is over and anxiety when facing a panic situation with a high rate. There correlation 
between anxiety disorders and health behaviors as used alcohol, smoke. 
*Trường đại Học kỹ Thuật Y – Dược Đà Nẵng 
Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Thị Mỹ Anh Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 168 
Conclusion: Students with anxiety disorders need attention and early intervention with appropriate 
educational programs to raise their awareness and reduce negative behaviors such as conflict with friends or 
use of drugs. 
Keywords: anxiety disorders, drugs 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Lo âu là hiện tượng tự nhiên, hết sức bình 
thường của con người khi họ gặp những vấn đề 
nảy sinh trong cuộc sống(1). Những người có 
triệu chứng của rối loạn lo âu đã được tìm thấy 
có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch, các vấn 
đề tiêu hóa, chứng đau nửa đầu, bệnh tuyến 
giáp(2). Theo khảo sát sức khỏe tâm thần thế giới, 
trong vòng một năm, trung bình 12% dân số thế 
giới có rối loạn lo âu có thể chẩn đoán được. 
Những người trải qua các rối loạn lo âu sớm sẽ 
có một tuổi trưởng thành sớm hơn so với tuổi 
thật của họ. Tại Việt Nam, thực trạng lo âu đối 
với đối tượng học sinh trung học phổ thông 
đang ngày được quan tâm và chú ý tới. Cụ thể 
là các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị 
Vân, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nguyễn Đại 
Hành và Kiều Thị Thanh Trà(3,4,5,6). Để hiểu rõ 
hơn về vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên 
cứu đề tài “Biểu hiện rối loạn lo âu và mối 
tương quan với các hành vi sức khỏe của học 
sinh trung học phổ thông công lập thành phố 
Đà Nẵng” với 2 mục tiêu: 
Xác định tỷ lệ các đặc điểm lo âu của học 
sinh THPT công lập thành phố Đà Nẵng. 
Tìm hiểu mối tương quan giữa lo âu với các 
hành vi sức khỏe của học sinh. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
437 học sinh tại 7 trường trung học phổ 
thông (THPT) công lập ở Thành phố Đà Nẵng: 
trường Thái Phiên, Nguyễn Hiền, Ngũ Hành 
Sơn, Hoàng Hoa Thám, Hòa Vang, Liên Chiểu, 
Phan Thành Tài từ tháng 10/2017-9/2018. 
Tiêu chuẩn lựa chọn 
Được sự đồng ý của học sinh tham gia trả lời 
bộ câu hỏi. 
Có mặt tại lớp trong thời điểm phỏng vấn. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Không hợp tác. 
Trả lời không đủ số liệu trong bảng câu hỏi. 
Có kết luận y tế là rối loạn tâm lý. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang 
Cỡ mẫu 
Áp dụng công thức: 
 =


	. . (1 − )

=
1,96. 0,24. (1 − 0,24)
0,04
Z=1,96: trị số tùy thuộc vào mức tin cậy 
mong muốn của ước lượng. Mức tin cậy mong 
muốn là 95% thì Z=1,96. 
d=0,04: mức sai lệch mong muốn là 5%. 
P: Tham số ước đoán chưa biết. Theo nghiên 
cứu của tác giả Lê Minh Thuận thấy rằng đối 
tượng nghiên cứu có rối nhiễu tâm lý như là 
trầm cảm với mức nặng là 15%, rất nặng là 9% 
trên mẫu nghiên cứu 388. Do vậy, p = 0,24 (p: tỷ 
lệ nặng và rất nặng). 
Tính được n=437. Ta lấy thêm 10% dự trù. 
Kết quả cuối cùng sau khi điều tra là n=457. 
Phương pháp chọn mẫu 
Phương pháp chọn mẫu chùm 4 giai đoạn và 
chọn ngẫu nhiên. 
- Giai đoạn 1: Chọn 7 quận huyện thành tại 
thành phố Đà Nẵng gồm quận Hải Châu, Thanh 
Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ và huyện 
Hòa Vang. 
- Giai đoạn 2: Chọn ngẫu nhiên 7 trường đại 
diện của 7 quận huyện bao gồm trường Nguyễn 
Hiền, Thái Phiên, Hoàng Hoa Thám, Ngũ Hành 
Sơn, Hòa Vang và Phan Thành Tài. 
- Giai đoạn 3: Chọn khối lớp theo cách phân 
loại ban học trong mỗi trường. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 169 
- Giai đoạn 4: Sau đó, chọn ngẫu nhiên học 
sinh từ danh sách theo hệ thống khoảng cách là 6 
(1/6) theo công thức  =


 và được chọn dựa 
trên thực tế số lượng học sinh có mặt tại thời 
điểm nghiên cứu. 
KẾT QUẢ 
Tỷ lệ học sinh THPT có rối loạn lo âu và mức 
độ biểu hiện cụ thể 
Tỷ lệ học sinh có rối loạn lo âu 
Tỷ lệ học sinh có rối loạn lo âu là 53,4 % và 
không có rối loạn lo âu là 46,6%. 
Mức độ cụ thể của rối loạn lo âu 
Rối loạn lo âu ở mức độ vừa có tỷ lệ cao nhất 
21,2% và mức độ rất nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất 
7,9% (Hình 1). 
Các đặc điểm nhân khẩu của đối tượng và các 
yếu tố liên quan 
Các đặc điểm nhân khẩu học 
Trong nghiên cứu, tỷ lệ nữ là 61,5% cao hơn 
nam, học sinh ở thành phố là 86,4% và sống với 
cha mẹ là chủ yếu với 87,7%, 56,0% không theo 
tôn giáo và 81,6% là gia đình sống cùng nhau 
(Bảng 1). 
Bảng 1: Thông tin đặc điểm nhân khẩu của đối tượng 
Nội dung n % 
Giới tính 
Nam 176 38,5 
Nữ 281 61,5 
Tôn giáo Phật 183 40,0 
 Thiên chúa 13 2,8 
 Không 256 56,0 
 Khác 5 1,1 
Tình trạng gia đình 
Sống cùng nhau 373 81,6 
Ly thân 37 8,1 
Ly hôn 14 3,1 
Khác 33 7,2 
Tỷ lệ các biểu hiện lo âu 
Trong các biểu hiện của lo âu có biểu hiện 
cao nhất như là lo lắng và dịu lại khi sự việc sẽ 
qua đi 84,5%, vaflo lắng với các tình huống làm 
hoảng sợ là 70,2%, thấp nhất là cảm thấy khó 
nuốt (Hình 2). 
Hình 1: Mức độ cụ thể của rối loạn lo âu 
Hình 2: Các biểu hiện lo âu 
0 20 40 60 80 100
Tôi bị khô miệng 
Cảm giác bị rung tay chân 
Bị đổ mồ hôi không do trời nóng hay việc năng 
Thấy khó nuốt 
Thấy sợ với những việc bình thường trước hay là 
Lo lắng với tình huống có thể làm hoảng sợ 
58,2 
39,4 
56 
84,5 
39,4 
53,8 
26,9 
38,5 
55,4 
32,4 
70,2 
49 
Biểu hiện lo âu 
46.6% 
11.6% 
21.2% 
13.1% 
7.9% 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 170 
Các yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu của đối 
tượng nghiên cứu 
So sánh giới tính và lo âu chung 
Bảng 2: Đặc điểm giới tính và lo âu chung 
Đặc điểm n (%) Mean/SD p 
Nam 75(42,6) 1,09±1,38 
<0,001 Nữ 169(60,1) 1,35±1,33 
Tổng 244(53,4%) 1,33±1,34 
Có sự khác biệt về lo âu giữa nữ và nam với 
p <0,05. Tỷ lệ nữ có lo âu là 60,1% cao hơn nam 
1,4 lần (Bảng 2). 
So sánh giới tính và mức độ lo âu cụ thể 
Bảng 3: Giới tính và mức độ lo âu cụ thể 
Giới 
tính 
Nhẹ n(%) Vừa n(%) 
Nặng 
n(%) 
R.Nặng 
n(%) 
p 
Nam 12(6,8) 32(18,2) 20(11,4) 14(8,0) 
< 0,05 Nữ 41(14,6) 65(23,1) 40(14,2) 22(7,8) 
Tổng 53(11,6) 97(21,2) 60(13,1) 36(7,9) 
Có sự khác biệt về mức độ lo âu cụ thể giữa 
nam và nữ với p <0,05 có ý nghĩa thống kê. 
Trong đó, tỷ lệ lo âu nặng và rất nặng của nữ 
chiếm tỷ lệ 22,0% và nam là 19,4% (Bảng 3). 
Mối liên quan giữa tôn giáo với lo âu 
Bảng 4: Tôn giáo và lo âu 
Đặc điểm n (%) Mean/SD p 
Phật 97(39,8) 1,53±0,50 
>0,05 
Thiên chúa 6(2,5) 1,46±0,51 
Không 137(56,1) 1,55±0,50 
Khác 4(1,6) 1,80±0,44 
Tổng 244(53,4%) 1,53±0,50 
Không có mối liên quan giữa tôn giáo với 
lo âu của học sinh vì p >0,05 không có ý nghĩa 
thống kê nhưng xét về con số thì tỷ lệ lo âu ở 
học sinh không theo tôn giáo là cao nhất 56,1% 
(Bảng 4). 
Mối liên quan giữa tình trạng gia đình với lo âu 
Bảng 5: Tình trạng gia đình và lo âu 
Đặc điểm n (%) Mean/SD p 
Sống cùng nhau 190(77,9) 1,51±0,50 
>0,05 
Ly thân 21(8,6) 1,57±0,50 
Ly hôn 10(4,1) 1,71±0,47 
Khác 23(9,4) 1,70±0,47 
Tổng 244(53,4%) 1,53±0,50 
Không có mối liên quan giữa tình trạng gia 
đình với lo âu của học sinh vì p >0,05 không có ý 
nghĩa thống kê. Tuy nhiên, xét về số lượng thì tỷ 
lệ học sinh ở gia đình sống cùng nhau lại có tỷ lệ 
lo âu cao 77,9% (Bảng 5). 
Mối liên quan giữa các mâu thuẫn cá nhân với 
lo âu 
Bảng 6: Mâu thuẫn cá nhân và lo âu 
Đặc điểm n(%) Mean/SD p 
Hiện tại đang mâu thuẫn 
với bạn 
38 (15,6) 1.17±0.36 
<0,001 Mâu thuẫn với ai đó 71 (29,1) 1.29±0.45 
Mâu thuẫn trong tình cảm 37 (15,2) 1.15±0.35 
Sự kỳ vọng với cha mẹ 130 (76,0) 1,53±0.50 
Có mối liên quan giữa các mẫu thuẫn của 
học sinh với rối loạn lo âu. Trong đó, yếu tố mâu 
thuẫn với ai liên quan đến tỷ lệ lo âu của học 
sinh là 29,1% (Bảng 6). 
Mối liên quan giữa hành vi sử dụng internet 
với lo âu 
Bảng 7: Hành vi sử dụng internet và lo âu cụ thể 
Internet Nhẹ n(%) Vừa n(%) 
Nặng 
n(%) 
R.Nặng 
n(%) 
p 
Không 11(14,5) 11(14,5) 11(14,5) 8(10,5) 
> 0,05 Có 42(11,0) 86(22,6) 40(12,9) 49(7,3) 
Tổng 53(11,6) 97(21,2) 60(13,1) 36(7,9) 
Không có mối liên quan giữa sử dụng 
internet với lo âu của học sinh vì p >0,05 không 
có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên xét về mặt phân 
tích con số thì khi học sinh có dùng internet thì 
tỷ lệ lo âu ở mức độ nặng và rất nặng là 12,9% và 
7,3% (Bảng 7). 
Mối tương quan giữa lo âu với hành vi sử 
dụng bia rượu 
Có mối tương quan giữa lo âu với hành vi sử 
dụng bia rượu của học sinh với p 0 nên 
đây là tương quan thuận, khi học sinh có lo âu 
có thể dẫn đến hành vi bia rượu (Hình 3). 
Mối tương quan giữa lo âu với hành vi hút 
thuốc 
Có mối tương quan giữa rối loạn lo âu với 
hành vi sử dụng thuốc lá của học sinh với 
p0. Nên đây là tương quan thuận 
khi học sinh càng có lo âu thì càng tăng hành vi 
sử dụng thuốc lá (Hình 4). 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 171 
Hình 3: Tương quan giữa hành vi sử dụng bia rượu và lo âu 
Hình 4: Tương quan giữa lo âu và hành vi hút thuốc 
BÀN LUẬN 
Các đặc điểm chung và tỷ lệ lo âu của đối tượng 
nghiên cứu 
Giới tính 
Tỷ lệ nữ cao hơn nam 1,5 lần, đặc điểm này 
cũng giống với các nghiên cứu Trần Thị Thu 
Mai(3), Nguyễn Thị Vân(5). Do số lượng học sinh ở 
các ban học xã hội cao hơn ban tự nhiên trong 
hầu hết các trường trong khi nhóm nghiên cứu 
chọn mẫu ngẫu nhiên trong các lớp của phương 
pháp chùm. So sánh tỷ lệ lo âu của nữ là 60,1% 
cao hơn nam là 42,6% cũng giống nghiên cứu 
của 2 tác giả trên. Nghiên cứu của Nguyễn Thị 
Vân tỷ lệ nữ là 54,0% nam là 46,0%, tỷ lệ lo âu 
nặng và rất nặng của nữ chiếm tỷ lệ 22,0% và 
nam là 19,4% giống với nghiên cứu của tác giả 
Nguyễn Đại Hành(6) là 29,3% và 35,6%. Hầu như, 
các nghiên cứu về lo âu đều chứng minh nữ có 
lo âu nhiều hơn nam vì tâm lý của nữ và nam có 
p = 0,002 
R= 0,047 
p<0,05 
R=0,043 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 172 
khác biệt, nữ luôn lo âu với mọi tình huống xảy 
ra với mình trong khi nam giới thì ngược lại 
luôn bình tĩnh trong mọi tình huống ứng xử. 
Tình trạng gia đình 
Tỷ lệ học sinh có gia đình sống cùng nhau 
chiếm tỷ lệ cao 81,6%, tỷ lệ còn lại thuộc về tình 
trạng sống thiếu cha hoặc mẹ 18,4% gần giống 
nghiên cứu của Nguyễn Đại Hành có tỷ lệ 90,0% 
và 10,0%(6). Tuy nhiên lại không có mối liên quan 
về tình trạng gia đình với lo âu của học sinh. Lý 
do vì độ tuổi này học sinh chưa phải là đối 
tượng hoàn toàn độc lập trong các sinh hoạt 
hằng ngày nên đa phần học sinh sống với cha 
mẹ nhưng đây cũng không phải là yếu tố chính 
dẫn đến lo âu của học sinh. 
Tỷ lệ lo âu chung trong nghiên cứu của 
chúng tôi là 53,4 % cao hơn tác giả Wong JG có lo 
âu 41% khi nghiên cứu trên đối tượng sinh viên, 
cao hơn tác giả Nguyễn Hằng Phương với tỷ lệ 
là (21,6%). Xu hướng giới trẻ đặc biệt là trẻ tuổi 
vị thành niên đang báo động về các đặc điểm 
tâm lý bất ổn trong môi trường có nhiều thay 
đổi, trong khi cách tiếp cận của học sinh rất 
nhanh nên cũng dễ bị tổn thương. Trong khi 
mẫu nghiên cứu được thực hiện tại ở nhiều 
trường tại thành phố Đà Nẵng, một thành phố 
tương đối trẻ với nhiều đổi thay về dân số và 
môi trường nên sẽ có nhiều áp lực cho học sinh. 
Các mối tương quan giữa lo âu và các hành vi 
của học sinh 
Các yếu tố mâu thuẫn của học sinh với 
thực trạng lo âu: Với tỷ lệ kỳ vọng của cha mẹ 
là 76,0%, mâu thuẫn với ai đó 29,1% giống 
nghiên cứu của Deb, (2010) nguyên nhân chính 
của sự RLLA ở thanh thiếu niên Ấn Độ cao là 
do kì vọng của cha mẹ. Sự bất đồng trong tâm 
lý giữa bố mẹ và con cái ở độ tuổi này thường 
diễn ra sâu sắc, hay có sự kỳ vọng cũng như 
nảy sinh các mâu thuẫn trong mối quan hệ bố 
mẹ và con cái khiến trẻ hay có những suy nghĩ 
tiêu cực nặng thì dễ có nguy cơ tự sát hoặc nhẹ 
thì thường xuyên có biểu hiện căng thẳng lo 
lắng. Độ tuổi với nhiều nét tâm lý bốc đồng 
nổi loạn cũng xuất hiện nhiều mâu thuẫn 
trong tình bạn hoặc với ai đó, cách ứng xử 
thiếu kiểm soát về mặt cảm xúc gia tăng tình 
trạng lo lắng trên học sinh. 
Yếu tố tương quan giữa lo âu với các hành vi 
sử dụng rượu bia và thuốc lá: Mặc dù, đối tượng 
rất ít có biểu hiện hành vi sử dụng bia rượu và 
thuốc lá vì hầu hết nữ chiếm tỷ lệ cao hơn so với 
nam trong tổng số mẫu nghiên cứu 457 nhưng 
có mối tương quan thuận giữa lo âu với hành vi 
trên. Khi học sinh có lo âu thì hành vi bia rượu 
và hút thuốc cao với r >0 và p <0,05 giống nghiên 
cứu của tác giả Lê Minh Thuận tỷ lệ sinh viên có 
lo âu thì hành vi sử dụng bia rượu và thuốc lá 
cũng cao. mặc dù nghiên cứu này chưa định 
lượng được số lượng bia rượu học sinh dùng 
nhưng đều có mối tương quan lẫn nhau giữa lo 
âu và các hành vi không tốt trên học sinh. 
Yếu tố liên quan giữa hành vi sử dụng 
internet với lo âu: Không có mối liên quan hành 
vi sử dụng internet với lo âu khác biệt so với 
nghiên cứu của Lê Minh Thuận là vì đối tượng 
nghiên cứu trên sinh viên nên tỷ lệ sử dụng 
mạng để học tập và nghiên cứu cũng cao hơn 
đối tương học sinh. Do đó, mới có sự khác biệt, 
nhóm chưa tìm ra hướng nghiên cứu trên cùng 
đối tượng thể hiện mối liên quan giữa hành vi 
này với lo âu trên mẫu nghiên cứu học sinh. 
KẾT LUẬN 
Tỷ lệ học sinh có rối loạn lo âu là 53,4%. 
Trong đó, lo âu ở mức độ nặng là 13,1%, rất 
nặng là 7,9%. 
Nữ có tỷ lệ rối loạn lo âu 60,1% cao hơn so 
với nam 42,6%. 
Biểu hiện lo lắng và dịu lại khi sự việc qua đi 
và lo lắng với các tình huống làm hoảng sợ có tỷ 
lệ cao nhất. 
Các yếu tố mâu thuẫn của học sinh có liên 
quan đến lo âu. 
Lo âu cũng tương quan với các hành vi hút 
thuốc và sử dụng bia rượu của học sinh. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Ngô Thị Liên (2013). “Thực trạng biểu hiện lo âu của hoc sinh 
Trung học phổ thông huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội”. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 173 
Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Trường Đại học Giáo dục, Đại Học 
Quốc Gia Hà Nội. 
2. Mental health awareness week 2014. “Living with anxiety-
understanding the role and impact of anxiety in our live”. URL: 
https://www.bl.uk/collection-items/living-with-anxiety-
understanding-the-role-and-. 
3. Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Ngọc Duy (2015). “Rối loạn lo âu 
của học sinh một số trường sư phạm tại Thành phố Hồ chí 
Minh”. Khoa học Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh, 
486. 
4. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2013). “Nghiên cứu biểu hiện của rối 
loạn lo âu ở học sinh trường trung học cơ sở Phương Mai-Hà 
Nội khi sống trong gia đình có bạo lực”. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý 
học, Trường Đại học Giáo dục, Đại Học Quốc Gia Hà Nội. 
5. Nguyễn Thị Vân (2018). “Mức độ lo âu của học sinh trung học 
phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh”. Khoa học, 15(1):117-127. 
6. Lê Đại Hành (2013). “Rối loạn lo âu của học sinh trung học phổ 
thông huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang”. Luận văn Thạc sĩ 
Tâm lý học, Trường Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh. 
Ngày nhận bài báo: 02/08/2019 
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2019 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020 

File đính kèm:

  • pdfbieu_hien_roi_loan_lo_au_va_moi_tuong_quan_voi_cac_hanh_vi_s.pdf