Biểu hiện dấu ấn sinh học Ki-67 bằng phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch trên bệnh nhân được phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc tại Bệnh viện Bình Dân

Đặt vấn đề: Hiện nay, việc theo dõi và tiên lượng ung thư tuyến tiền liệt tái phát sau điều trị vẫn là vấn đề

còn nhiều tranh cãi, không thể chỉ dựa vào một yếu tố mà cần nhiều yếu tố để làm tăng độ chính xác. Protein Ki-

67, với đặc điểm tăng biểu hiện trong nhân tế bào giai đoạn phân chia, đã được chứng minh là dấu ấn sinh học

của sự tăng sinh tế bào và có giá trị tiên lượng trong nhiều loại ung thư khác nhau, bao gồm ung thư tuyến tiền

liệt.

Mục tiêu: Đánh giá biểu hiện dấu ấn sinh học Ki-67 bằng phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch trên bệnh

nhân được phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt trường hợp các bệnh nhân

được phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc tại bệnh viện Bình Dân đồng ý thực hiện xét nghiệm từ 01/06/2019

đến 30/06/2020. Các biến số được ghi nhận gồm nồng độ PSA huyết thanh, điểm số Gleason, giai đoạn TNM,

mức độ biểu hiện dấu ấn sinh học Ki-67 đánh giá bằng xét nghiệm hóa mô miễn dịch.

Kết quả: Cỡ mẫu nghiên cứu là 44 trường hợp. Tuổi trung bình là 68,7 ± 7,5. Điểm số Gleason sau phẫu

thuật thuộc nhóm Gleason 2 - 6 chiếm 15,9%; nhóm Gleason 7 chiếm 52,3%; nhóm Gleason 8 – 10 chiếm 31,8%.

Tỉ lệ bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ thấp là 4,5%; nguy cơ trung bình là 13,6%; nguy cơ cao là 81,8%. Mức độ

biểu hiện dấu ấn Ki-67 là: 4,75% ± 2,81%. Nồng độ PSA huyết thanh và mức độ biểu hiện dấu ấn Ki-67 có mối

tương quan thuận, hệ số tương quan R=0,49 (p=0,001). Mức độ biểu hiện dấu ấn Ki-67 trung bình trên nhóm

điểm Gleason 2 – 6 là 2,2%; điểm Gleason 7 là 4,5%; điểm Gleason 8 – 10 là 6,4%. Mức độ biểu hiện dấu ấn Ki-

67 tăng 1% thì nguy cơ di căn hạch tăng 43,7% (OR=1,437; 95% CI=(1,038 – 1,989); p=0,029). Có sự tăng mức

độ biểu hiện dấu ấn Ki-67 trên nhóm bệnh nhân nguy cơ cao là 5,2% so với nhóm bệnh nhân nguy cơ thấp 2,6%

(p=0,015):

Kết luận: Dấu ấn sinh học Ki-67 có thể sử dụng là một yếu tố tiên lượng cho tình trạng di căn hạch cho

bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt; tiên lượng cho nguy cơ tái phát sinh hóa sau phẫu thuật cắt tuyến tiền

liệt tận gốc.

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Biểu hiện dấu ấn sinh học Ki-67 bằng phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch trên bệnh nhân được phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc tại Bệnh viện Bình Dân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Biểu hiện dấu ấn sinh học Ki-67 bằng phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch trên bệnh nhân được phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc tại Bệnh viện Bình Dân

Biểu hiện dấu ấn sinh học Ki-67 bằng phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch trên bệnh nhân được phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc tại Bệnh viện Bình Dân
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 222 
BIỂU HIỆN DẤU ẤN SINH HỌC Ki-67 
BẰNG PHƯƠNG PHÁP NHUỘM HÓA MÔ MIỄN DỊCH 
TRÊN BỆNH NHÂN ĐƯỢC PHẪU THUẬT CẮT TUYẾN TIỀN LIỆT TẬN GỐC TẠI 
BỆNH VIỆN BÌNH DÂN 
Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng1, Trần Đỗ Hữu Toàn2, Trần Ngọc Khắc Linh2, Trang Võ Anh Vinh1, 
Nguyễn Ngọc Minh Tâm1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Hiện nay, việc theo dõi và tiên lượng ung thư tuyến tiền liệt tái phát sau điều trị vẫn là vấn đề 
còn nhiều tranh cãi, không thể chỉ dựa vào một yếu tố mà cần nhiều yếu tố để làm tăng độ chính xác. Protein Ki-
67, với đặc điểm tăng biểu hiện trong nhân tế bào giai đoạn phân chia, đã được chứng minh là dấu ấn sinh học 
của sự tăng sinh tế bào và có giá trị tiên lượng trong nhiều loại ung thư khác nhau, bao gồm ung thư tuyến tiền 
liệt. 
Mục tiêu: Đánh giá biểu hiện dấu ấn sinh học Ki-67 bằng phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch trên bệnh 
nhân được phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt trường hợp các bệnh nhân 
được phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc tại bệnh viện Bình Dân đồng ý thực hiện xét nghiệm từ 01/06/2019 
đến 30/06/2020. Các biến số được ghi nhận gồm nồng độ PSA huyết thanh, điểm số Gleason, giai đoạn TNM, 
mức độ biểu hiện dấu ấn sinh học Ki-67 đánh giá bằng xét nghiệm hóa mô miễn dịch. 
Kết quả: Cỡ mẫu nghiên cứu là 44 trường hợp. Tuổi trung bình là 68,7 ± 7,5. Điểm số Gleason sau phẫu 
thuật thuộc nhóm Gleason 2 - 6 chiếm 15,9%; nhóm Gleason 7 chiếm 52,3%; nhóm Gleason 8 – 10 chiếm 31,8%. 
Tỉ lệ bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ thấp là 4,5%; nguy cơ trung bình là 13,6%; nguy cơ cao là 81,8%. Mức độ 
biểu hiện dấu ấn Ki-67 là: 4,75% ± 2,81%. Nồng độ PSA huyết thanh và mức độ biểu hiện dấu ấn Ki-67 có mối 
tương quan thuận, hệ số tương quan R=0,49 (p=0,001). Mức độ biểu hiện dấu ấn Ki-67 trung bình trên nhóm 
điểm Gleason 2 – 6 là 2,2%; điểm Gleason 7 là 4,5%; điểm Gleason 8 – 10 là 6,4%. Mức độ biểu hiện dấu ấn Ki-
67 tăng 1% thì nguy cơ di căn hạch tăng 43,7% (OR=1,437; 95% CI=(1,038 – 1,989); p=0,029). Có sự tăng mức 
độ biểu hiện dấu ấn Ki-67 trên nhóm bệnh nhân nguy cơ cao là 5,2% so với nhóm bệnh nhân nguy cơ thấp 2,6% 
(p=0,015): 
Kết luận: Dấu ấn sinh học Ki-67 có thể sử dụng là một yếu tố tiên lượng cho tình trạng di căn hạch cho 
bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt; tiên lượng cho nguy cơ tái phát sinh hóa sau phẫu thuật cắt tuyến tiền 
liệt tận gốc. 
Từ khóa: dấu ấn sinh học Ki-67, hóa mô miễn dịch, phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc, tái phát sinh hóa 
ABSTRACT 
EVALUATION THE IMMUNOHISTOCHEMICAL EXPRESSION OF Ki-67 BIOMARKER 
IN PATIENTS TREATED WITH RADICAL PROSTATECTOMY 
Nguyen Phuc Cam Hoang, Tran Do Huu Toan, Tran Ngoc Khac Linh, Trang Vo Anh Vinh, 
Nguyen Ngoc Minh Tam * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 222 - 226 
1Bệnh viện Bình Dân 2Bộ môn Tiết niệu học Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Trần Đỗ Hữu Toàn ĐT: 0818.696.222 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 223 
Background: Currently, the follow-up and prognosis of prostate cancer recurrence after treatment is 
still controversial, it is not possible to rely on just one factor, but many factors are needed to increase the 
accuracy. The Ki-67 protein, with its characteristic increased expression in the cell nucleus of the division 
stage, has been shown to be a biomarker of cell proliferation and has prognostic value in a wide variety of 
cancers. includes prostate cancer. 
Objective: To assess the expression of Ki-67 biomarker by immunohistochemistry in patients undergoing 
radical prostatectomy. 
Methods: Data of 44 patients who have had radical prostatectomy at Binh Dan Hospital from June 1, 2019 
to June 30, 2020 were reviewed. Patient information including: serum PSA concentration, Gleason score, TNM 
stage, Ki-67 biomarker expression assessed by immunohistochemistry were recorded. 
Result: Sample size is 44 cases. The mean age was 68.7 ± 7.5. Gleason score after surgery in the Gleason 2 - 
6 group accounted for 15.9%; the Gleason 7 group accounted for 52.3%; the Gleason 8 - 10 group accounted for 
31.8%. The proportion of patients in the low-risk group was 4.5%; average risk was 13.6%; high risk of 81.8%. 
The level of Ki-67 expression was: 4.75% ± 2.81%. Serum PSA concentration and Ki-67 marker expression were 
positively correlated, correlation R=0.49 (p=0.001). The average Ki-67 expression level in the Gleason 2 - 6 score 
group was 2.2%; Gleason 7 group was 4.5%; Gleason 8 - 10 group was 6.4%. The level of Ki-67 expression 
increased by 1%, the risk of lymph node metastasis increased by 43.7% (OR=1.437; 95% CI=(1.038 - 1.989); 
p=0.029). There was a 5.2% increase in Ki-67 expression in high-risk patients compared with 2.6% in low-risk 
patients (p=0.015). 
Conclusion: Biomarker Ki-67 could be used as a predictor of lymph node metastasis in prostate cancer 
patients; Prognosis for the risk of biochemical recurrence after radical prostatectomy. 
Key words: Ki-67 biomarker, immunohistochemistry, radical prostatectomy, biochemical recurrence 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ung thư tuyến tiền liệt (TTL) là vấn đề sức 
khỏe thường gặp ở nam giới(1). Việc quyết định 
chiến lược điều trị ung thư tuyến tiền liệt hiện 
nay dựa trên phân nhóm nguy cơ không được 
tối ưu do ung thư thường diễn tiến không đồng 
nhất; các yếu tố như điểm số Gleason, nồng độ 
PSA huyết thanh dần bộc lộ những khuyết điểm. 
Việc nghiên cứu các dấu ấn sinh học như Ki-67, 
PTEN, p53, ERG,  là một xu hướng của các 
trung tâm trên thế giới với mục tiêu theo dõi, 
điều trị, và tiên lượng hiệu quả hơn cho bệnh 
nhân ung thư tuyến tiền liệt 
Nổi bật trong các dấu ấn kể trên, có protein 
Ki-67 với vai trò là dấu ấn sinh học (biomarker) 
của sự tăng sinh tế bào. Protein Ki-67 có giá trị 
tiên lượng ở nhiều loại ung thư khác nhau, bao 
gồm ung thư tuyến tiền liệt. 
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành 
nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu “Bệnh nhân ung 
thư tuyến tiền liệt được phẫu thuật cắt tuyến 
tiền liệt tận gốc có biểu hiện dấu ấn sinh học Ki-
67 như thế nào?”. Nghiên cứu có mục tiêu xác 
nhận lại các kết quả nghiên cứu trên thế giới về 
biểu hiện dấu ấn Ki-67 trên mẫu mô ung thư 
tuyến tiền liệt; khảo sát mối liên quan giữa biểu 
hiện Ki-67 với điểm số Gleason, giai đoạn TNM, 
và phân nhóm nguy cơ; trên đối tượng bệnh 
nhân người Việt Nam. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Bệnh nhân được phẫu thuật (PT) cắt TTL tận 
gốc tại bệnh viện Bình Dân từ 01/06/2019 đến 
30/06/2020. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
(1) Có kết quả giải phẫu bệnh lý của bệnh 
viện Bình Dân hoặc của tuyến trước là ung thư 
tuyến tiền liệt; 
(2) Được chỉ định PT cắt tuyến tiền liệt tận 
gốc bằng phương pháp PT mở, PT nội soi hoặc 
PT nội soi với sự hỗ trợ Robot. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 224 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Bệnh nhân đã được cắt đốt nội soi tuyến tiền 
liệt trước phẫu thuật hay đã được điều trị đặc 
hiệu ung thư tuyến tiền liệt trước phẫu thuật 
bằng một trong những điều trị: liệu pháp nội tiết 
(triệt androgen nội khoa hay phẫu thuật cắt 2 
tinh hoàn); xạ trị vùng chậu; hóa trị. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả hàng loạt trường hợp. 
Phương pháp thực hiện 
Các bệnh nhân được thu thập và đánh giá 
các số liệu lâm sàng, cận lâm sàng trước và sau 
phẫu thuật bao gồm: nồng độ PSA huyết 
thanh, điểm số Gleason, giai đoạn TNM theo 
bảng phân loại Hiệp hội Ung thư Hoa Kì 
(AJCC) 2017(2). 
Quy trình đánh giá biểu hiện dấu ấn sinh học Ki-67 
Quy trình đánh giá biểu hiện dấu ấn Ki-67 
được thực hiện theo tác giả Hứa Thị Ngọc Hà và 
Nguyễn Phan Xuân Trường, Đại học Y Dược TP. 
Hồ Chí Minh (2019)(3). 
Phân tích và định lượng bằng phần mềm 
ImmunoRatio được phát triển bởi các tác giả 
Jorma Isola và Vilppu Tuominen ở đại học 
Tampere, Phần Lan (2010) 
(
software/). Các nhân bắt màu với Ki-67 được 
đánh giá dương tính. 
KẾT QUẢ 
Có 44 trường hợp (TH) được đưa vào nghiên 
cứu (NC). 
Mức độ biểu hiện dấu ấn Ki-67 là: 4,75% ± 
2,81%. (1,15% - 14,8%) 
Mối liên quan giữa Ki-67 và nồng độ PSA 
huyết thanh 
Nồng độ PSA huyết thanh và mức độ biểu 
hiện dấu ấn Ki-67 có mối tương quan thuận, 
mức độ trung bình, hệ số tương quan R=0,49. 
(F=13,281; với p=0,001). 
Ở những BN có nồng độ PSA cao (PSA ≥20 
ng/ml), mức độ biểu hiện Ki-67 cao hơn so với 
những BN có PSA thấp và trung bình (PSA <20 
ng/ml) (p=0,02 và 0,004). 
Mối liên quan giữa Ki-67 và điểm số Gleason 
sau PT 
Bảng 1: Mức độ biểu hiện Ki-67 trên các nhóm điểm 
số Gleason (N = 44) 
Điểm số Gleason 
(GS) 
GS 2 – 6 
(n = 7) 
GS 7 
(n = 23) 
GS 8 – 10 
(n = 14) 
Mức độ Ki-67 (%) 2,2 ± 0,8 4,5 ± 2,3 6,4 ± 3,2 
Kiểm định One-way ANOVA; F=6,506; p=0,004<0,05; 
KTC 95% 
Mối liên quan giữa Ki-67 và giai đoạn T (Tumor) 
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
giữa mức độ biểu hiện Ki-67 và ung thư xâm lấn 
tại chỗ (p >0,05). 
Mối liên quan giữa Ki-67 và tình trạng di căn hạch 
10/44 bệnh nhân không đủ thông tin về giai 
đoạn pN. 
Bảng 2: Mức độ biểu hiện Ki-67 và di căn hạch chậu 
Giai đoạn pN 
pN0 
(n = 25) 
pN1 
(n = 9) 
Mức độ Ki-67 (%) 3,9 ± 2,1 6,9 ± 3,9 
Giá trị p=0,02<0,05 
Phân tích mô hình hồi quy logistic đơn biến 
(binary logistic regression) đánh giá ảnh hưởng 
của mức độ biểu hiện dấu ấn Ki-67 trên mô ung 
thư TTL với tình trạng di căn hạch: Mức độ biểu 
hiện Ki-67 tăng thêm 1% sẽ tăng thêm nguy cơ di 
căn hạch 43.7% (OR=1,437; p=0,029 <0,05). 
Mối liên quan giữa Ki-67 và nhóm nguy cơ 
ung thư TTL 
Bảng 3: Mức độ biểu hiện Ki-67 theo nhóm nguy cơ 
(N = 44) 
Nhóm nguy cơ 
Thấp/Trung bình 
(n = 8) 
Cao 
(n = 36) 
Mức độ biểu hiện Ki-67 (%) 2,6 ± 1,1 5,2 ± 2,9 
Giá trị p=0,015<0,05 KTC 95% 
BÀN LUẬN 
Mối liên quan giữa Ki-67 và nồng độ PSA 
huyết thanh 
Có sự khác biệt giữa các nghiên cứu trên thế 
giới về mối liên quan giữa nồng độ PSA huyết 
thanh và biểu hiện dấu ấn Ki-67. Điều này có thể 
lý giải do PSA là một yếu tố đặc hiệu cho tuyến 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 225 
tiền liệt chứ không đặc hiệu cho ung thư, có thể 
tăng trong các tình trạng lành tính khác. Đồng 
thời, bệnh nhân ung thư TTL người Việt Nam 
thường nhập viện với các tình trạng đi kèm như 
bí tiểu, viêm tuyến tiền liệt,  
Bảng 4: So sánh kết quả các nghiên cứu về mối liên 
quan giữa biểu hiện Ki-67 và nồng độ PSA huyết thanh 
Tác giả Mẫu mô TTL N Giá trị p 
Berney DM (2009)
(4) 
Sinh thiết TTL 808 0,042 
Krisna M (2017)
(5) 
Sinh thiết TTL 30 0,193 
Chúng tôi (2020) Sau PT cắt TTL 44 0,028 
Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 
giữa nhóm nồng độ PSA ≥20 ng/ml so sánh với 
nhóm PSA <10 ng/ml và 10 – 19,9 ng/ml; mức độ 
biểu hiện Ki-67 khác nhau có ý nghĩa thống kê 
(p=0,02 và 0,004). Theo Hiệp hội Tiết niệu châu 
Âu (2020)(6), PSA ≥20 ng/ml là một yếu tố của 
nguy cơ tái phát sinh hóa cao. Do đó, kết quả của 
chúng tôi phần nào gợi ý vai trò của Ki-67 trong 
tiên lượng nguy cơ tái phát sinh hóa. 
Mối liên quan giữa Ki-67 và điểm số Gleason 
sau PT 
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có sự 
liên quan rất chặt chẽ giữa mức độ biểu hiện dấu 
ấn Ki-67 và điểm số Gleason mẫu mô ung thư 
TTL sau phẫu thuật (PT). 
Bảng 5: So sánh kết quả các nghiên cứu về mối liên 
quan giữa biểu hiện Ki-67 và điểm số Gleason (GS) 
Tác giả 
Mức độ biểu hiện Ki-67 (%) 
GS 2 - 6 GS 7 GS 8 - 10 
Mesko S (2013)
(7) 
5,0 ± 3,8 7,7 ± 7,0 12,0 ± 12,4 
Chúng tôi (2020) 2,2 ± 0,8 4,5 ± 2,3 6,4 ± 3,2 
So sánh với các nghiên cứu khác đã có của 
các tác giả nước ngoài, nghiên cứu của chúng tôi 
có cùng kết luận: điểm số Gleason tăng dần, 
tương ứng ung thư có mức độ biệt hóa giảm 
dần, thì mức độ biểu hiện dấu ấn Ki-67 tăng dần. 
Mối liên quan giữa Ki-67 và tình trạng di căn hạch 
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận Ki-67 là 
một yếu tố tiên lượng của tình trạng di căn hạch. 
Khi mức độ biểu hiện dấu ấn Ki-67 tăng 1% thì 
nguy cơ di căn hạch tăng 43,7% (OR=1,437; 
p=0,029). Các nghiên cứu của một số tác giả khác 
trên thế giới cũng cho những kết quả tương 
đồng với nghiên cứu của chúng tôi. 
Nghiên cứu của tác giả Mathieu R (2014)(8), 
khảo sát và theo dõi 3123 BN ung thư TTL được 
PT cắt TTL tận gốc thực hiện tại 3 trung tâm, ghi 
nhận có 762 BN (chiếm 24,4% TH) có di căn 
hạch. Biểu hiện Ki-67 trên nhóm BN này (với giá 
trị ngưỡng cut-off là 3,5%) cũng khác biệt có ý 
nghĩa thống kê với nhóm không di căn hạch 
(p=0,039). 
Mối liên quan giữa Ki-67 và nhóm nguy cơ ung 
thư TTL 
Thiết kế nghiên cứu của chúng tôi là mô tả 
hàng loạt trường hợp khảo sát biểu hiện dấu ấn 
Ki-67 trên BN được PT cắt TTL tận gốc thực hiện 
trong khoảng thời gian là 12 tháng, và không 
theo dõi các BN sau PT. Do đó, khó kết luận 
được chính xác vai trò của biểu hiện Ki-67 trong 
tiên đoán nguy cơ tái phát sinh hóa sau PT cắt 
TTL tận gốc. Tuy nhiên, thay vào đó, chúng tôi 
đánh giá biểu hiện dấu ấn Ki-67 trên từng nhóm 
BN có nguy cơ tái phát sinh hóa sau PT cắt TTL 
tận gốc là nguy cơ thấp, trung bình, và nguy cơ 
cao (phân nhóm nguy cơ theo Hiệp hội Tiết niệu 
châu Âu (2020)(6)) với hy vọng đánh giá được 
phần nào vai trò của Ki-67 trong tiên lượng nguy 
cơ tái phát sinh hóa sau PT. 
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận được có 
sự khác biệt về biểu hiện Ki-67 trên 2 nhóm BN 
nguy cơ tái phát sinh hóa thấp/trung bình và 
nguy cơ tái phát sinh hóa cao (p=0,015). Kết quả 
giúp gợi ý Ki-67 có thể đóng vai trò là một yếu tố 
tiên lượng của tái phát sinh hóa sau PT cắt TTL 
tận gốc. 
Tác giả Mathieu R (2014)(8), theo dõi 3123 BN 
sau PT với khoảng thời gian theo dõi trung bình 
là 44 tháng, ghi nhận mức biểu hiện Ki-67 ≥3,5% 
làm tăng 24,3% nguy cơ tái phát sinh hóa (HR = 
1,243; p=0,015). 
Tác giả Tretiakova MS (2016)(9), theo dõi 1004 
BN sau PT với khoảng thời gian theo dõi là 5 
năm thì biểu hiện Ki-67 tăng 1% làm tăng nguy 
cơ tái phát sinh hóa 7% nguy cơ tái phát sinh hóa 
(HR=1,07; p=0,0008). 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 226 
Từ các kết quả trên, có thể kết luận Ki-67 có 
vai trò như một yếu tố tiên lượng của tái phát 
sinh hóa sau PT cắt TTL tận gốc. 
KẾT LUẬN 
Dấu ấn sinh học Ki-67 có thể sử dụng là một 
yếu tố tiên lượng cho tình trạng di căn hạch cho 
bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt; tiên lượng cho 
nguy cơ tái phát sinh hóa sau phẫu thuật cắt 
tuyến tiền liệt tận gốc. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Hội Tiết Niệu Thận Học Việt Nam (2018). "Hướng dẫn chẩn 
đoán và điều trị Ung thư tuyến tiền liệt", pp.31-35. Nhà xuất bản 
Y học Hà Nội. 
2. American Joint Committee on Cancer (2017). "Prostate". AJCC 
Cancer Staging Manual, 8th Edition, pp.715-726. Springer, 
Chicago. 
3. Hứa Thị Ngọc Hà và Nguyễn Phan Xuân Trường (2019). 
"Nghiên cứu đặc điểm mô bệnh học và hình ảnh MRI của 
lymphôm thần kinh trung ương". Luận văn Bác sĩ Nội trú, Đại 
học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. 
4. Berney DM, Gopalan A, et al (2009). "Ki-67 and outcome in 
clinically localised prostate cancer: analysis of conservatively 
treated prostate cancer patients from the Trans-Atlantic Prostate 
Group study". Br J Cancer, 100(6):888-893. 
5. Krisna M, Syah MW, et al (2017). "Relations between Ki-67 
immunohistochemistry expression with histopathology grading 
and prostate-specific antigen (PSA) values in adenocarcinoma 
prostate". Bali Medical Journal, 6(2):289-293. 
6. Mottet N, Cornford P, et al (2020). "EAU-EANM-ESTRO-ESUR-
SIOG Guidelines on Prostate Cancer". 
7. Mesko S, Kupelian P, et al (2013). "Quantifying the ki-67 
heterogeneity profile in prostate cancer". Prostate Cancer, pp.717-
780. 
8. Mathieu R, Shariat SF, et al (2015). "Multi-institutional 
validation of the prognostic value of Ki-67 labeling index in 
patients treated with radical prostatectomy". World J Urol, 
33(8):1165-1171. 
9. Tretiakova MS, Wei W, et al (2016). "Prognostic value of Ki67 in 
localized prostate carcinoma: a multi-institutional study of 
>1000 prostatectomies". Prostate Cancer Prostatic Dis, 19(3):264-
270. 
Ngày nhận bài báo: 30/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfbieu_hien_dau_an_sinh_hoc_ki_67_bang_phuong_phap_nhuom_hoa_m.pdf