Bí tiểu sau sinh và yếu tố nguy cơ trên thai phụ có giảm đau sản khoa

Đặt vấn đề: Giảm đau sản khoa (GĐSK) làm gia tăng nguy cơ bí

tiểu sau sinh (BTSS). Chẩn đoán BTSS trong vòng 6 giờ đầu bằng

các triệu chứng lâm sàng như không thể tự tiểu hoặc buộc phải thông

tiểu là phương pháp thường dùng tại các bệnh viện chuyên khoa sản

tại Việt Nam.

Mục tiêu: Khảo sát tỉ lệ BTSS lâm sàng trên nhóm sản phụ có làm

giảm đau sản khoa và tìm các yếu tố nguy cơ.

Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu, triển khai tại bệnh viện

Hùng Vương trên những sản phụ có làm giảm đau sản khoa đồng ý

tham gia vào nghiên cứu. Sau sinh 6 giờ, sản phụ sẽ được thăm khám

và hỏi các triệu chứng lâm sàng về khả năng tự tiểu sau sinh.

Kết quả: BTSS lâm sàng có tỉ lệ 21.9%, Khoảng tin cậy 95%: 18.4-

25.3%. Sản phụ sinh con đầu lòng, sinh giúp, có thời gian chuyển dạ

giai đoạn 2 kéo dài, lượng máu mất nhiều lúc sinh làm gia tăng nguy cơ

BTSS lâm sàng.

Kết luận: cần chủ động thăm khám xác định những sản phụ có nguy

cơ cao BTSS trong vòng 6 giờ nhằm hướng dẫn tập tiểu, thông tiểu giải

áp khi cần nhằm hạn chế biến chứng BTSS.

pdf 4 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Bí tiểu sau sinh và yếu tố nguy cơ trên thai phụ có giảm đau sản khoa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bí tiểu sau sinh và yếu tố nguy cơ trên thai phụ có giảm đau sản khoa

Bí tiểu sau sinh và yếu tố nguy cơ trên thai phụ có giảm đau sản khoa
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 59 - 62, 2016
59
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
Phan Thị Hằng(1), Huỳnh Nguyễn Khánh Trang(2) 
(1) Bệnh viện Hùng Vương, (2) Đại học Y dược TP.HCM
BÍ TIỂU SAU SINH VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ
TRÊN THAI PHỤ CÓ GIẢM ĐAU SẢN KHOA
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Giảm đau sản khoa (GĐSK) làm gia tăng nguy cơ bí 
tiểu sau sinh (BTSS). Chẩn đoán BTSS trong vòng 6 giờ đầu bằng 
các triệu chứng lâm sàng như không thể tự tiểu hoặc buộc phải thông 
tiểu là phương pháp thường dùng tại các bệnh viện chuyên khoa sản 
tại Việt Nam. 
Mục tiêu: Khảo sát tỉ lệ BTSS lâm sàng trên nhóm sản phụ có làm 
giảm đau sản khoa và tìm các yếu tố nguy cơ. 
Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu, triển khai tại bệnh viện 
Hùng Vương trên những sản phụ có làm giảm đau sản khoa đồng ý 
tham gia vào nghiên cứu. Sau sinh 6 giờ, sản phụ sẽ được thăm khám 
và hỏi các triệu chứng lâm sàng về khả năng tự tiểu sau sinh. 
Kết quả: BTSS lâm sàng có tỉ lệ 21.9%, Khoảng tin cậy 95%: 18.4-
25.3%. Sản phụ sinh con đầu lòng, sinh giúp, có thời gian chuyển dạ 
giai đoạn 2 kéo dài, lượng máu mất nhiều lúc sinh làm gia tăng nguy cơ 
BTSS lâm sàng. 
Kết luận: cần chủ động thăm khám xác định những sản phụ có nguy 
cơ cao BTSS trong vòng 6 giờ nhằm hướng dẫn tập tiểu, thông tiểu giải 
áp khi cần nhằm hạn chế biến chứng BTSS.
Từ khóa: Bí tiểu sau sinh, bí tiểu sau sinh lâm sàng, yếu tố nguy cơ.
Abstract 
POSTPARTUM URINARY RETENTION AND RISK 
FACTORS FOR EPIDURAL ANESTHESIA IN LABOUR
Introduction: Epidural anesthesia inscreased risk of postpartum 
urinary retention (PUR)xxx. Diagnosis PUR with clinical symptoms 
are frequently used in Viet Nam.
Objectives: Determine incidence and risk factors of clinical PUR 
in pregnant women had epidural anesthesia and vaginal delivery.
Methodology: Prospective cohort study conducted at Hung Vuong 
hospital included 553 pregnant women had epidural anesthesia and 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phan Thị Hằng,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/06/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
24/06/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/06/2016
Từ khóa: Bí tiểu sau sinh, bí 
tiểu sau sinh lâm sàng, yếu tố 
nguy cơ.
Keywords: Postpartum urinary 
retention, clinical post partum 
urinary retention, risk factors.
PHAN THỊ HẰNG, HUỲNH NGUYỄN KHÁNH TRANG 
60
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
vaginal delivery agreed to enrol. All women was examined and interviewed PUR symptoms at 
postpartum 6 hours.
Results: Clinical PUR was 21.9%, 95% CI: 18.4-25.3%, risk factors were primipara, vaginal 
operation delivery, prolonged second stage of labour, blood lost more than 300 ml. Conclusion: 
Examination to determine women had high risks of PUR and prevention of complications of 
prolonged PUR were encouraged.
Keywords: postpartum urinary retention, clinical post partum urinary retention, risk factors.
1. Đặt vấn đề 
Bí tiểu sau sinh (BTSS) là tình trạng rất phổ biến 
trong sản khoa. Tỉ lệ BTSS rất thay đổi tùy thuộc vào 
định nghĩa và các phương tiện chẩn đoán sử dụng, 
dao động từ 7.1% đến 47% (3-6). BTSS là tình trạng 
không thể đi tiểu được trên lâm sàng trong vòng 6 
giờ sau sinh hoặc sau khi tự tiểu, lượng nước tiểu 
còn lại trong bàng quang từ 150ml trở lên. Tại Bệnh 
viện Hùng Vương và Từ Dũ, các nghiên cứu khảo sát 
BTSS bằng các triệu chứng lâm sàng với tỉ lệ được 
phát hiện từ 12.3 - 13,5% (7, 8).
Giảm đau sản khoa (GĐSK) là một yếu tố nguy 
cơ khá thường gặp của BTSS. Tổng quan Cochrane 
năm 2011 cho thấy BTSS cao gấp 17 lần ở những 
phụ nữ có thực hiện GĐSK bằng gây tê ngoài 
màng cứng (khoảng tin cậy 95% (KTC95%): 4,8 - 
60,4) (9). Mặt khác, nguy cơ bí tiểu với dung tích 
tồn lưu bàng quang (DTTLBQ) nhiều hơn 500ml ở 
nhóm có gây tê ngoài màng cứng để làm GĐSK 
cao hơn 10 lần so với nhóm không làm GĐSK 
(KTC 95%: 2,5-43,0) (10). Nguy cơ tổn thương cơ 
chóp bàng quang có thể xảy ra khi dung tích tồn 
lưu cao trên 700 ml. Trong quá trình chuyển dạ, 
nhu cầu giải áp bàng quang bằng thông tiểu ngắt 
quãng cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm có 
gây tê ngoài màng cứng so với nhóm không gây 
tê (60,6% so với 52,5%, p = 0,01) (11). Tại Việt 
Nam, nhu cầu GĐSK ngày càng tăng cao nhưng 
việc chăm sóc bàng quang trong và sau chuyển dạ 
vẫn chưa được chú ý nhiều. Chẩn đoán bí tiểu sau 
sinh bằng lâm sàng như hỏi triệu chứng, sờ và tìm 
cầu bàng quang và thông tiểu giải áp là phương 
pháp rất phổ biến hiện nay tại các cơ sở sản khoa 
tại Việt Nam.
Có nhiều dữ liệu cho thấy nếu chẩn đoán sớm 
BTSS có thể làm giảm những biến chứng lâu dài của 
bệnh (12). Với chẩn đoán xác định từ giai đoạn 6 giờ 
sau sinh bằng xác định các triệu chứng lâm sàng trên 
những sản phụ có làm giảm đau sản khoa, chúng tôi 
thực hiện nghiên cứu với mục tiêu:
1. Xác định tỉ lệ BTSS có triệu chứng trên thai 
phụ sinh thường có GĐSK
2. Xác định một số yếu tố nguy cơ của BTSS trên 
nhóm đối tượng này.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu được thực hiện tại 
Bệnh viện Hùng Vương từ 04/2015 – 11/2015. 
Thai phụ có thai là ngôi đầu, đơn thai được thực 
hiện giảm đau sản khoa chấp thuận tham gia vào 
nghiên cứu đều được thu nhận. Nghiên cứu loại trừ 
những trường hợp có chỉ định mổ sinh, có vết mổ 
cũ, có chỉ định đặt thông tiểu lưu để theo dõi lượng 
nước tiểu do bệnh lý khác như bệnh nội khoa nặng, 
tiền sản giật nặng, băng huyết sau sinh cần truyền 
máu. Tất cả thai phụ thu nhận vào nghiên cứu sau 
khi được làm giảm đau sản khoa sẽ được: theo dõi 
và đánh giá cầu bàng quang, hướng dẫn tự tiểu 
trong chuyển dạ, đều được truyền tối thiểu 1000ml 
dịch truyền trong chuyển dạ. 
Trong trường hợp sờ có cầu bàng quang, thai 
phụ tự tiểu không được hoặc khó khăn, hộ sinh sẽ 
tiến hành thông tiểu giải áp, ghi nhận nước tiểu 
bằng ca đong vạch. Số lần thông tiểu, thể tích nước 
tiểu, lượng dịch truyền trong chuyển dạ được ghi 
nhận cụ thể. Sản phụ được nhắc nhở tự tiểu sau 
sinh 4 giờ. Sau sinh 6 giờ, nhân viên nghiên cứu sẽ 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 59 - 62, 2016
61
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
phỏng vấn và hướng dẫn sản phụ tự tiểu, sau đó 
sẽ xác nhận có cầu bàng quang hay không và đo 
kích thước của cầu bàng quang bằng thước dây kể 
từ trên xương mu (nếu sờ thấy). Sản phụ được theo 
dõi sau sinh cho đến khi xuất viện, những kết quả 
điều trị cho tất cả sản phụ có tham gia nghiên cứu 
được ghi nhận vào thời điểm xuất viện.
Tiêu chuẩn xác định chẩn đoán: Những sản phụ 
có các triệu chứng sau sinh 6 giờ như không tiểu được 
lần nào kể từ sau sinh hoặc có cầu bàng quang cần 
phải thông tiểu. Biến chứng của BTSS được xác định 
bằng các dữ liệu điều trị như có đặt thông tiểu lưu, 
thời gian nằm viện kéo dài và các rối loạn đường tiểu 
xác định vào thời điểm sau sinh 48 giờ.
Cỡ mẫu được ước tính theo công thức ước tính 
một tỉ lệ với độ chính xác của ước lượng là 0,05, tỉ 
lệ ước tính của bí tiểu sau sinh là 21% và lực của 
nghiên cứu là 80%.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập qua phiếu 
thông tin, hồ sơ bệnh án và phỏng vấn bệnh nhân. 
Nhập liệu bằng phần mềm Excel, quản lý và phân 
tích bằng Stata 11. Các yếu tố nguy cơ được phân 
tích bằng mô hình hồi quy đa biến, các yếu tố được 
xem như có ảnh hưởng lên bí tiểu sau sinh được 
xác định khi chỉ số P<0.05 và khoảng giá trị tin 
cậy 95% khác 1.
3. Kết quả nghiên cứu
Bảng 1, Bảng 2, Bảng 3
4. Bàn luận
Nghiên cứu ghi nhận tuổi thai phụ trung bình 
27±4.8 tuổi, tuổi thai trung bình là 38.6±1.2 tuần. 
Có 188 (33%) sản phụ ở nội thành TPHCM, 57 
(10%) ngoại thành (bảng 1).
Vào thời điểm sau sinh 6 giờ, ghi nhận có 121 
(21,9%) sản phụ có các triệu chứng và chưa đi tiểu 
được lần nào hoặc buộc phải đặt thông tiểu giải 
áp. Nhóm này được chẩn đoán là BTSS trên lâm 
sàng, tỉ lệ 21,9%. Nghiên cứu của tác giả Phượng 
(13) năm 2012 thực hiện tại BVHV là 12.3%. Khác 
biệt giữa hai nghiên cứu ở thời điểm ghi nhận có 
triệu chứng của tác giả Phượng là trong 24 giờ và 
ngoài ra, nghiên cứu này không chủ động phỏng 
vấn sản phụ ở thời điểm sau sinh 6 giờ như chúng 
tôi. Trong quá trình chuyển dạ có làm GĐSK có 
đến 541 (97.7%) sản phụ cần được thông tiểu giải 
Đặc điểm Dân số chung
Bí tiểu lâm sàng
Có Không
Số sản phụ 553 121 432
Số con đã có 
Con so 357 (64.6) 104 (29.1) 17 (8.7)
Con rạ 196 (35.4) 253 (70.9) 179 (91.3)
Bệnh nội khoa 
Không có 490 (89) 101 (84.2) 389 (90.5)
Cao huyết áp, tim, khác 55 (10) 18 (15) 37 (8.6)
Tiểu đường 5 (1) 1 (0.83) 4 (0.93)
Giục sinh 195 (35.3) 44 (22.6) 77 (21.5)
Thời gian từ khi CTC mở hết đến sổ thai (phút) 34.4±38.6 52.5±46.9 29.3±34.4
Thời gian từ gđsk đến sinh (giờ) 3.79±2.46 4.34±2.46 3.64±2.44
Số lần thông tiểu trong chuyển dạ 
0 12 (2.3) 1 (8.3) 11 (2.7)
1 387 (74.9) 82 (72.6) 305 (75.5)
2 99 (19.1) 27 (23.9) 72 (17.8)
3 19 (3.7) 3 (2.6) 16 (4.0)
Phương pháp sinh ngã âm đạo 
Sinh thường 450 (81) 78 (64.5) 372 (86.1)
Sinh hút 80 (15) 31 (25.6) 49 (11.3)
Sinh kềm 23 (4) 12 (9.9) 11 (2.5)
Tổng dịch truyền (ml) 1205±357 1309±457 1176±317
Máu mất lúc sinh (ml) 281±135 328±187 268±112
Mức độ tổn thương TSM 
Độ 1 17 (3.07) 5 (4.1) 12 (2.8)
Độ 2 514 (92.95) 113 (93.4) 401 (92.8)
Độ 3 4 (0.72) 3 (2.5) 1 (0.2)
Thời điểm từ sinh đến khám lâm sàng 5.51±1.12 5.4±0.9 5.5 ±1.2
Sờ thấy cầu bàng quang 
Có 141 (25.7) 76 (63.3) 65 (15.1)
Không rõ 64 (11.7) 19 (15.8) 45 (10.5)
Kích thước trung bình cầu bàng quang sờ thấy được (cm) 8.31±3.10 8.8±3.2 7.8±2.9
Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu 
Kết quả điều trị Tổng sản phụ nghiên cứu Bí tiểu lâm sàng
Số trường hợp quan sát 553 121
Tổng số lần thông tiểu giải áp sau sinh 
0 447 (80.8) 58 (47.9)
1 101 (18.3) 59 (47.9)
2 4 (0.7) 4 (3.3)
3 1 (0.2) 1 (0.83)
Số lần lưu thông tiểu điều trị 
0 514 (92.9) 94 (77.7)
1 37 (6.7) 26 (21.5)
2 2 (0.4) 1 (0.83)
Tỉ lệ bí tiểu có triệu chứng sau sinh 48 giờ 125 (22.98) 43 (7.8)
Thời gian nằm viện sau sinh (ngày) 3.80±0.8 4.18±1.09
Số cas lưu thông tiểu điều trị BTSS (%) 39 (100%) 27 (22.3)
Bảng 2. Kết quả điều trị
Yếu tố nguy cơ OR aOR 
Con so 4.3 (2.5-7.5) 2.97 (1.65-5.21)
Sinh giúp 3.42 (2.15-5.42) 2.02 (1.21-3.34)
Máu mất lúc sinh(1) 1.15 (1.07-1.23) 1.09 (1.06-1.17)
Thời gian từ CTC mở hết đến sổ thai (phút) 1.14 (1.09-1.20) 1.08 (1.03-1.14)
(1): nguy cơ cho mỗi 50gr máu mất tăng thêm
Bảng 3. Yếu tố nguy cơ 
PHAN THỊ HẰNG, HUỲNH NGUYỄN KHÁNH TRANG 
62
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
áp ít nhất 1 lần. Trong nghiên cứu của Evron và 
cộng sự, tỉ lệ sản phụ cần đặt thông tiểu giải áp 
là 91% (14). Tỉ lệ này cũng tương đương với kết 
quả nghiên cứu chúng tôi. Nhu cầu cần giải áp 
bàng quang trong chuyển dạ thực sự rất cần thiết. 
Vì vậy, việc theo dõi, nhắc nhở thai phụ rặn tiểu 
trong chuyển dạ cũng đã được khuyến cáo trong 
các hướng dẫn chăm sóc chuyển dạ ở nhiều quốc 
gia (15-17).
Kết quả nghiên cứu cho thấy số sản phụ phải 
đặt thông tiểu lưu là 39 trường hợp trong khi nếu 
chẩn đoán bằng thăm khám lâm sàng chỉ phát hiện 
26 trường hợp, đặc biệt có 1 trường hợp không 
được chẩn đoán BTSS lâm sàng nhưng vẫn phải 
đặt thông tiểu lưu 2 lần và mang ống thông tiểu về 
nhà lưu thêm 1 tuần. Những nghiên cứu khác cũng 
cho thấy nếu chỉ thăm khám, hỏi triệu chứng đơn 
thuần vẫn có khả năng bỏ sót bệnh và dẫn đến 
tình trạng chẩn đoán và điều trị muộn (12). Vì vậy 
chủ động chẩn đoán và can thiệp điều trị sớm hơn 
đang được khuyến khích bằng phương tiện scan 
bàng quang (6), không để tình trạng tổn thương 
khó hồi phục của bàng quang.
Những sản phụ đã có GĐSK có con so, có 
thời gian chuyển dạ kéo dài, gia tăng máu mất 
mỗi 50gr, sinh giúp trong nghiên cứu chúng tôi là 
những người có nguy cơ cao hơn những sản phụ có 
giảm đau sản khoa thông thường khác. Điều này 
cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu khác đã công 
bố (13, 18, 19).
Nghiên cứu xác định tỉ lệ và các yếu tố nguy cơ 
của BTSS lâm sàng giúp xác định những đối tượng 
cần được quan tâm chăm sóc và theo dõi tích cực 
nhằm phòng tránh biến chứng bí tiểu kéo dài gây 
ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của sản phụ 
sau sinh. Việc triển khai các biện pháp tích cực 
phát hiện sớm BTSS rất cần thiết và cấp bách.
5. Kết luận
Qua nghiên cứu 553 thai phụ sinh thường có 
GĐSK ghi nhận: (1) Tỉ lệ BTSS có triêu chứng lâm 
sàng 21,9% KTC95%[18.4-25.3]; (2) Yếu tố nguy 
cơ liên quan BTSS: con so aOR=2.97 (1.65-5.21), 
có thời gian chuyển dạ kéo dài aOR= 1.08 (1.03-
1.14), máu mất nhiều hơn 50gr aOR=1.09 (1.06-
1.17), sinh giúp aOR= 2.02 (1.21-3.34). 
Tài liệu tham khảo
1. Camus E PC, Goffinet F, Wainer B, Merlet F, Nisand I, et al. 1999;. 
Pregnancy rates after in-vitro fertilization in cases of tubal infertility with 
and without hydrosalpinx: a meta-analysis of published comparative 
studies. Hum Reprod. 1999;14:1243-9.
2. Amesse LS, Pfaff-Amesse T, Leonardi R, Uddin D, French JA, 2nd. 
Oral contraceptives and DDAVP nasal spray: patterns of use in managing 
vWD-associated menorrhagia: a single-institution study. J Pediatr Hematol 
Oncol. 2005 Jul;27(7):357-63.
3. Mulder FE, Oude Rengerink K, van der Post JA, Hakvoort RA, Roovers 
JP. Delivery-related risk factors for covert postpartum urinary retention 
after vaginal delivery. Int Urogynecol J. 2016 Jan;27(1):55-60.
4. Cavkaytar S, Kokanali MK, Baylas A, Topcu HO, Laleli B, Tasci Y. 
Postpartum urinary retention after vaginal delivery: Assessment of risk factors 
in a case-control study. J Turk Ger Gynecol Assoc. 2014;15(3):140-3.
5. Kekre AN, Vijayanand S, Dasgupta R, Kekre N. Postpartum urinary 
retention after vaginal delivery. Int J Gynaecol Obstet. 2011 Feb;112(2):112-5.
6. Marie Blomstrand RB, Lennart Christensson and Peter Blomstrand. 
Systematic bladder scanning identifies more women with postpartum 
urinary retention than diagnosis by clinical signs and symptoms. 
International Journal of Nursing and Midwifery. 2015;7(6):108-15.
7. Trần Thị Lợi NQK. Tần suất bí tiểu sau sinh và một số yếu tố liên quan trên 
sản phụ tại bệnh viện Từ Dũ Tạp chí y học Tp Hồ Chí Minh. 2003;7(1):5-8.
8. Đặng Thị Bình HNKT. Tỷ lệ bí tiểu sau sanh và một số yếu tố liên quan 
trên sản phụ tại bệnh viện Hùng Vương. Y học thành phố Hồ Chí Minh. 
2014;18(1):183-8.
9. Anim-Somuah M, Smyth RM, Jones L. Epidural versus non-epidural or 
no analgesia in labour. Cochrane database of systematic reviews. [Meta-
Analysis Review]. 2011(12):CD000331.
10. Liang CC, Wong SY, Tsay PT, Chang SD, Tseng LH, Wang MF, et al. 
The effect of epidural analgesia on postpartum urinary retention in women 
who deliver vaginally. Int J Obstet Anesth. 2002 Jul;11(3):164-9.
11. Dickinson JE, Paech MJ, McDonald SJ, Evans SF. The impact of 
intrapartum analgesia on labour and delivery outcomes in nulliparous 
women. Aust N Z J Obstet Gynaecol. 2002 Feb;42(1):59-66.
12. Groutz A, Levin I, Gold R, Pauzner D, Lessing JB, Gordon D. 
Protracted postpartum urinary retention: the importance of early diagnosis 
and timely intervention. Neurourol Urodyn. 2011 Jan;30(1):83-6.
13. Trần Thị Mỹ Phượng VTN. Gây tê ngoài màng cứng trong chuyển 
dạ và nguy cơ bí tiểu cấp sau sanh ngã âm đạo Y học Thành phố Hồ 
Chí Minh. 2014;18: 5:161-5.
14. Evron S, Dimitrochenko V, Khazin V, Sherman A, Sadan O, Boaz M, 
et al. The effect of intermittent versus continuous bladder catheterization 
on labor duration and postpartum urinary retention and infection: a 
randomized trial. J Clin Anesth. 2008 Dec;20(8):567-72.
15. Bladder Care Postpartum and Management of Urinary Retention, (2010).
16. Intrapartum and Postnatal Bladder Care Guideline, HStHCL250 (2010).
17. Leach S. ‘Have you had a wee yet?’ Postpartum urinary retention. 
Pract Midwife. [Review]. 2011 Jan;14(1):23-5.
18. Humburg J, Troeger C, Holzgreve W, Hoesli I. Risk factors in 
prolonged postpartum urinary retention: an analysis of six cases. Arch 
Gynecol Obstet. 2009 Dec 19.
19. Mulder FE, Schoffelmeer MA, Hakvoort RA, Limpens J, Mol BW, 
van der Post JA, et al. Risk factors for postpartum urinary retention: a 
systematic review and meta-analysis. Bjog. [Meta-Analysis Review]. 2012 
Nov;119(12):1440-6.

File đính kèm:

  • pdfbi_tieu_sau_sinh_va_yeu_to_nguy_co_tren_thai_phu_co_giam_dau.pdf