Bệnh lý tim ở phụ nữ mang thai: nghiên cứu tổng kết 5 năm

Mục tiêu nghiên cứu: 1. Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận

lâm sàng của những sản phụ mang thai có bệnh lý tim kèm theo. 2.

Nghiên cứu phương pháp và kết quả can thiệp kết thúc thai kỳ ở những

sản phụ này.

Đối tượng nghiên cứu: 346 sản phụ mang thai đã được chấm dứt thai

kỳ trong khoảng thời gian từ 2010-2014 và được chẩn đoán mắc bệnh

lý tim kèm theo.

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.

Kết quả: có 346 sản phụ có bệnh tim kèm theo được đưa vào nghiên

cứu, trong đó 56,9% mang thai con so, số lần mang thai của mẫu nghiên

cứu là 3±1,2, có 77,8% sản phụ được phát hiện bệnh tim trước khi có

thai, 85,5% vào viện ở quí 3 thai kỳ. Tuổi thai tại thời điểm nhập viện có

xu hướng giảm trong khi khoảng thời gian điều trị trước khi hết thúc thai

kỳ ngày càng tăng. 11% sản phụ được chỉ định nong nạo, 65,6% mổ lấy

thai và 23,4% sản phụ sinh đường âm đạo.

pdf 5 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Bệnh lý tim ở phụ nữ mang thai: nghiên cứu tổng kết 5 năm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bệnh lý tim ở phụ nữ mang thai: nghiên cứu tổng kết 5 năm

Bệnh lý tim ở phụ nữ mang thai: nghiên cứu tổng kết 5 năm
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 21 - 25, 2016
21
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
Hoàng Bảo Nhân, Trần Minh Thắng, Nguyễn Hữu Hồng, Phan Viết Tâm 
Bệnh viện Trung ương Huế
BỆNH LÝ TIM Ở PHỤ NỮ MANG THAI: 
NGHIÊN CỨU TỔNG KẾT 5 NĂM
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: 1. Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận 
lâm sàng của những sản phụ mang thai có bệnh lý tim kèm theo. 2. 
Nghiên cứu phương pháp và kết quả can thiệp kết thúc thai kỳ ở những 
sản phụ này. 
Đối tượng nghiên cứu: 346 sản phụ mang thai đã được chấm dứt thai 
kỳ trong khoảng thời gian từ 2010-2014 và được chẩn đoán mắc bệnh 
lý tim kèm theo. 
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. 
Kết quả: có 346 sản phụ có bệnh tim kèm theo được đưa vào nghiên 
cứu, trong đó 56,9% mang thai con so, số lần mang thai của mẫu nghiên 
cứu là 3±1,2, có 77,8% sản phụ được phát hiện bệnh tim trước khi có 
thai, 85,5% vào viện ở quí 3 thai kỳ. Tuổi thai tại thời điểm nhập viện có 
xu hướng giảm trong khi khoảng thời gian điều trị trước khi hết thúc thai 
kỳ ngày càng tăng. 11% sản phụ được chỉ định nong nạo, 65,6% mổ lấy 
thai và 23,4% sản phụ sinh đường âm đạo. 
Từ khóa: bệnh lý tim và thai nghén, mổ lấy thai, tử vong mẹ.
Abstract 
HEART DISEASE IN PREGNANT WOMEN: A 
REVIEW OF FIVE YEARS (2010-2014) 
Objectives: 1) To study signs and symptom of heart diseases in 
pregnant women 2) Estimating the methods and outcomes in these 
women. 
Materials: 346 pregnant women who were terminated their 
pregnancies, and had concurrent heart disease, during 2010 to 2014. 
Method: A descriptive study. 
Results: 346 pregnant women were included, 56.9% of them were 
nulliparous, the time of pregnant was 3±1.2, heart disease was detected 
before pregnancies in 77.8% of those women, and 85.5% of them were 
hospitalized at third trimester. Mean GA had tend of decreasing while 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Hoàng Bảo Nhân,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/06/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
24/06/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/06/2016
Từ khoá: Bệnh lý tim và thai 
nghén, mổ lấy thai, tử vong mẹ. 
Keywords: Heart disease 
in pregnant women, D&C, 
C-section, maternal death.
HOÀNG BẢO NHÂN, TRẦN MINH THẮNG, NGUYỄN HỮU HỒNG, PHAN VIẾT TÂM
22
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
the period time of treatment were increasing. The rate of D&C, C-section and vaginal delivery was 
11%, 65.6% and 23.4%, respectively.
Keywords: heart disease in pregnant women, D&C, C-section, maternal death.
1. Đặt vấn đề 
Bệnh lý tim ở phụ nữ mang thai là một trong 
những bệnh lý nguy hiểm, nó thường dẫn đến 
những nguy cơ cho cả mẹ và con [2]. Tần suất mắc 
bệnh chiếm khoảng 1-2% các phụ nữ mang thai [1, 
2]. Hiện nay, sự phát triển của các phương pháp 
điều trị ở những bệnh nhân mắc bệnh tim giúp họ 
tăng tuổi thọ và chất lượng sống, khiến những bệnh 
nhân này không những mong muốn được sống mà 
còn sống tốt và thậm chí mang thai và sinh đẻ, điều 
mà trước đây được coi là chống chỉ định ở phụ nữ 
mắc bệnh lý tim [3, 4].
Tại châu Âu, thậm chí bệnh lý tim bẩm sinh là 
loại bệnh phổ biến nhất trong những bệnh lý tim 
mạch trong thai kỳ [4], chiếm khoảng 70-80%. 
Những thay đổi về tim mạch khi mang thai như 
cung lượng tim tăng khoảng 50%, nhịp tim tăng 
khoảng 10 nhịp/phút, hiện tượng chèn ép của tử 
cung lên tĩnh mạch chi dưới [1, 2] thường làm 
nặng thêm tình trạng bệnh lý tim của người mẹ. Nó 
có thể gây nên những biến chứng nguy hiểm như: 
suy tim cấp, hoặc làm nặng thêm tình trạng suy 
tim sẵn có, phù phổi cấp, tắc mạch phổi, rối loạn 
nhịp tim Những biến chứng này hay gặp trong 3 
tháng cuối của thai kỳ và nhất là trong chuyển dạ, 
vì trong giai đoạn này, những biến đổi về tim mạch 
là nhiều nhất [5].
Ngược lại, bệnh lý tim mạch cũng ảnh hưởng đến 
thai nhi, gây nên nhiều bệnh lý như thai chậm phát 
triển trong tử cung, thai suy mãn tính, dọa sẩy, sẩy 
thai, dọa đẻ non, đẻ non, thai lưu, thai chết trong 
chuyển dạ Các biến chứng này có thể gặp tùy theo 
tình trạng bệnh lý của người mẹ cũng như tùy vào tuổi 
thai [9]. Nhưng một số trường hợp thai nhi vẫn có thể 
phát triển tốt nếu như tình trạng bệnh lý tim của người 
mẹ vẫn còn bù và được điều trị tốt [5, 14].
Trong thực hành lâm sàng, tại khoa Phụ Sản 
bệnh viện Trung ương Huế, chúng tôi gặp không ít 
sản phụ có bệnh lý tim. Từ đó, chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu này với 2 mục tiêu: (1) Nghiên cứu một 
số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của những 
sản phụ mang thai có bệnh lý tim kèm theo và (2) 
Nghiên cứu phương pháp và kết quả kết thúc thai 
kỳ ở những sản phụ này.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Những sản phụ vào viện tại khoa Phụ Sản bệnh 
viện Trung ương Huế từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 
12 năm 2014 được chẩn đoán có mắc bệnh lý tim. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Được chẩn đoán xác định có thai dựa vào 
khám lâm sàng, xét nghiệm βhCG, progesteron và 
Siêu âm sản khoa.
- Được chẩn đoán xác định mắc bệnh lý tim dựa 
vào khám lâm sàng, ECG và siêu âm tim.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Tiền sản giật, sản giật, tăng huyết áp thai kỳ.
- Nhau bong non, vỡ tử cung.
- Có sẹo mổ cũ trên tử cung mà chỉ định mổ lần 
trước không do bệnh lý tim.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả 
cắt ngang.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm chung của sản phụ có 
bệnh lý tim
Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ
Tuổi 27,4±2,3 tuổi
Lần mang thai
Số lần 3±1,2 lần
Con so 197 56,9
Con rạ 149 43,1
Thời điểm phát hiện 
bệnh tim
Trước mang thai 269 77,8
Khi mang thai 77 22,2
Thời điểm nhập viện
3 tháng đầu 39 11,3
3 tháng giữa 11 3,2
3 tháng cuối 296 85,5
Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
3.2. Bệnh tim trong ba tháng cuối 
thai kỳ
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 21 - 25, 2016
23
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
Năm N Tuổi thai (tuần) Thời gian điều trị trước can thiệp (tuần)
2010 71
Khi nhập viện 27,4 ± 4,1 
0,9 ± 4,2 
Khi chấm dứt thai kỳ 28,3 ± 4,2 
2011 66
Khi nhập viện 28,9 ± 4,3 
1,3 ± 4,5
Khi chấm dứt thai kỳ 30,2 ± 4,6 
2012 79
Khi nhập viện 28,6 ± 4,5 
1,7 ± 5,1
Khi chấm dứt thai kỳ 30,3 ± 5,4 
2013 61
Khi nhập viện 29,1±5,2
2,6±3,7
Khi chấm dứt thai kỳ 31,6±4,9
2014 69
Khi nhập viện 29,5±4,8
2,5±4,6
Khi chấm dứt thai kỳ 32,0±5,1
Bảng 2: Tuổi thai khi nhập viện và khi chấm dứt thai kỳ
Can thiệp Số lượng Tỉ lệ (%)
Nong và nạo 38 11,0
Mổ lấy thai 227 65,6
Sinh đường âm đạo 81 23,4
Cấp cứu 103 29,8
Chương trình 243 70,2
Bảng 3: Can thiệp chấm dứt thai kỳ
Bệnh van tim/ TBS Rối loạn nhịp tim Bệnh lý cơ tim Suy tim Tử vong
Số lượng 216 80 50 19 14
Tỉ lệ (%) 62,4 23,1 14,5 5,5 4,0
Bảng 4: Đặc điểm bệnh lý tim
n Biến chứng Đờ tử cung Chảy máu Nhiễm trùng Tổng số
Mổ lấy thai 169
Số lượng 9 4 14 27
Tỉ lệ (%) 5,3 1,2 8,3 16,0
Đẻ thường 177
Số lượng 9 6 7 22
Tỉ lệ (%) 5,1 3,4 4,0 6,4
Bảng 8: Biến chứng gần ở những sản phụ có bệnh lý tim
Năm N Số lần mang thai Số lần mang thai Tuổi thai (tuần) Thời gian điều trị (tuần)
2010 61
Con so 67,5
3,1±1,4 32,6 ± 4,5 0,9 ± 4,5
Con rạ 32,5
2011 56
Con so 66,4
3 ± 1,2 33,1 ± 5,2 1,2 ± 4,3
Con rạ 33,6
2012 68
Con so 64,1
2,8 ± 1,3 31,3 ± 3,2 1,5 ± 5,7 
Con rạ 35,9
2013 52
Con so 63,5
2,5 ± 0,9 32,4 ± 4,7 1,4 ± 3,7
Con rạ 36,5
2014 60
Con so 63,3
2,6 ± 1,1 32,3 ± 3,1 1,3 ± 4,2 
Con rạ 36,7
Bảng 5: Đặc điểm thai kỳ
Năm N Thái độ xử trí (%) Phương pháp xử trí (%)
2010 61
Cấp cứu 41,0 Mổ lấy thai 42,6
Chủ động 59,0 Sinh thường 57,4
2011 56
Cấp cứu 35,7 Mổ lấy thai 41,1
Chủ động 64,3 Sinh thường 58,9
2012 68
Cấp cứu 32,3 Mổ lấy thai 69,1
Chủ động 67,7 Sinh thường 30,9
2013 52
Cấp cứu 32,7 Mổ lấy thai 65,4
Chủ động 67,3 Sinh thường 34,6
2014 60
Cấp cứu 31,7 Mổ lấy thai 65,0
Chủ động 68,3 Sinh thường 35,0
Bảng 6: Xử trí chấm dứt thai kỳ
Năm N
Tử vong mẹ
Đặc điểm sơ sinh
Số lượng Tỉ lệ (%)
2010 61 3 4,9
Tỉ lệ tử vong 13,1%
Cân nặng 2653±294 gam
2011 56 3 5,4
Tỉ lệ tử vong 10,7%
Cân nặng 2847±245 gam
2012 68 2 2,9
Tỉ lệ tử vong 10,3%
Cân nặng 2705±274 gam
2013 52 2 3,8
Tỉ lệ tử vong 11,5%
Cân nặng 2741±271 gam
2014 60 3 5,0
Tỉ lệ tử vong 8,3%
Cân nặng 2758±294 gam
Bảng 7: Kết quả chấm dứt thai kỳ
4. Bàn luận
4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Trong khoảng thời gian nghiên cứu, có 216 
sản phụ vào viện tại khoa phụ sản bệnh viện 
Trung Ương Huế đã được chẩn đoán mắc bệnh lý 
tim kèm theo và phù hợp với tiêu chuẩn chọn bệnh 
cũng như tiêu chuẩn loại trừ của nghiên cứu.
Số sản phụ được chẩn đoán mắc bệnh tim kèm 
theo chiếm 1,2% số sản phụ được chỉ định chấm dứt 
thai kỳ tại khoa. Tỉ lệ này tương đương với tỉ lệ bị 
bệnh tim trong thai kỳ vào khoảng 1%-2% [1, 9].
Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 
27,4±2,3 tuổi. Đây là độ tuổi sinh đẻ nhiều nhất 
tại nước ta. Nghiên cứu của Puri S và cộng sự 
tại Ấn Độ cũng cho thấy đa số sản phụ có bệnh 
lý tim kèm theo nằm trong độ tuổi từ 20 đến 30 
(73/97 bệnh nhân) [10].
4.2. Đặc điểm lần mang thai này
Số lần mang thai trung bình của mẫu nghiên 
cứu là 3±1,2 lần. Trong đó, số bệnh nhân mang 
thai lần đầu chiếm tỉ lệ 56,9%. Điều này cũng có 
nghĩa là phần lớn những sản phụ này được phát 
hiện bệnh tim sau khi mang thai lần đầu do đa 
phần phụ nữ đều không khám sức khỏe định kì mà 
chỉ đi khám khi có thai hoặc khi có các triệu chứng 
của bệnh chính điều này làm chậm thời gian phát 
hiện bệnh và khi phát hiện bệnh thì việc điều trị trở 
HOÀNG BẢO NHÂN, TRẦN MINH THẮNG, NGUYỄN HỮU HỒNG, PHAN VIẾT TÂM
24
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
nên khó khăn hơn. Do đó, các bác sĩ lâm sàng đều 
khuyên rằng việc tư vấn tiền sản có vai trò đặc biệt 
quan trọng ở những bệnh nhân này [1]. Thai kỳ 
đó được xếp vào nhóm thai kỳ nguy cơ cao và chỉ 
được chăm sóc tại các cơ sở y tế đặc biệt [2, 11].
Đặc biệt có 77 sản phụ, (chiếm 22,2%) được 
tình cờ phát hiện bệnh tim khi vào viện trong tình 
trạng đã có chuyển dạ. Đây là một tình trạng 
nguy hiểm cho tính mạng của sản phụ, do không 
được điều trị trước khi có chỉ định chấm dứt thai 
kỳ, sự chuẩn bị các phương án và phương tiện 
cấp cứu khi có biến chứng xảy ra. Ở Hoa Kỳ 
cũng có tình trạng tương tự khi phần lớn bệnh 
nhân có bệnh lý tim mắc phải không được chẩn 
đoán cho đến khi có thai và đi khám định kì, 
hoặc thậm chí cho đến khi bệnh nhân có vấn đề 
sức khỏe trầm trọng [2].
Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu của 
chúng tôi vào viện ở quí 3 của thai kỳ, chiếm 
85,5%. Nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy phần lớn 
bệnh nhân được phát hiện bệnh lý tim trước khi có 
thai, tỉ lệ này là 48% [10]. Việc phát hiện bệnh 
sớm cho phép có được chiến lược chăm sóc bệnh 
nhân tốt hơn, đặc biệt là việc tư vấn trước mang 
thai hoặc tư vấn tiền sản nhằm có được sự hợp tác 
tốt giữa bệnh nhân và thầy thuốc để có được kết 
quả cuối cùng như mong đợi [7, 13, 15].
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 38 bệnh 
nhân (chiếm 11%) phải tiến hành nong và nạo, 
đây là thủ thuật được tiến hành ở quí đầu thai 
kỳ. Việc kết thúc thai kỳ ở những sản phụ có 
bệnh tim nên được thực hiện sớm sau khi có chỉ 
định [3]. Vì nguy cơ biến chứng của thủ thuật 
này tăng lên khi tuổi thai tăng.
Với những bệnh nhân mang thai đến khi đủ 
tháng hoặc đến khi có chuyển dạ tự nhiên thì 
việc sinh đường âm đạo được ưu tiên nhờ những 
lợi điểm mà nó mang lại như ít mất máu, giảm 
các biến chứng do vết mổ như tụ dịch, nhiễm 
trùng [1, 2]. Còn việc chỉ định mổ lấy thai chỉ 
nên phụ thuộc nguyên nhân sản khoa [3, 4].
Việc kết thúc thai kỳ ở những sản phụ có bệnh 
lý tim nên được tiến hành khi đã được chuẩn bị 
kĩ càng, giảm đau tốt trong thủ thuật hoặc phẫu 
thuật, điều trị hỗ trợ trước đó có vai trò rất quan 
trọng nhằm hạn chế các biến chứng có thể gặp 
cho cả mẹ và con [2]. Tuổi thai tại thời điểm 
nhập viện của nhóm sản phụ trong nghiên cứu 
cho thấy có xu hướng giảm, trong khi đó thời 
gian điều trị trước can thiệp tăng dần lên, đây là 
kết quả của sự nổ lực lớn trong thời gian qua của 
chúng tôi. Khoảng thời gian điều trị trước can 
thiệp là khoảng thời gian rất quí để điều trị nâng 
đỡ, điều trị các triệu chứng cho sản phụ, cũng 
như chuẩn bị trưởng thành phổi cho thai nhi nếu 
còn non tháng. Chính những bước chuẩn bị này 
đóng vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế 
tai biến cho cả mẹ và con [11, 14].
4.3. Đặc điểm bệnh lý tim
Bệnh lý van tim hoặc tim bẩm sinh là thường 
gặp nhất (chiếm 62,4%), sau đó là bệnh lý rối 
loạn nhịp tim chiếm 23,1%, theo Bowater SE thì 
có trên 50% phụ nữ mang thai có biểu hiện rối 
loạn nhịp tim, trong đó hay gặp nhất là ngoại 
tâm thu thất [2]. Tại các nước phát triển thì bệnh 
lý tim khi mang thai vẫn là nguyên nhân hàng 
đầu gây tử vong mẹ, tuy nhiên tỉ lệ bệnh nhân 
mắc bệnh tim bẩm sinh đã giảm dần trong khi 
những bệnh lý tim mắc phải lại ngày càng tăng. 
Bản thân những bệnh nhân có bệnh lý tim khi 
được điều trị tốt cũng là nhóm có nguy cơ cao 
hơn mắc các bệnh lý khác [2, 3].
Mặc dù một số bệnh nhân mắc những bệnh lý 
tim là chống chỉ định của mang thai và sinh đẻ, 
nhưng họ vẫn quyết tâm mang thai để có được 
đứa con của mình [2]. Đây không phải là vấn 
đề chỉ gặp tại khoa chúng tôi mà có thể gặp ở 
bất cứ đơn vị lâm sàng nào. Tiên lượng và mức 
độ nặng của bệnh lý tim trong thai kỳ không 
những phụ thuộc vào bệnh lý đó mà còn phụ 
thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cả tuổi thai 
và mức độ tăng áp lực động mạch phổi, đây là 
nguyên nhân tử vong của 20-25% sản phụ có 
bệnh lý tim [2], thậm chí có tác giả còn cho rằng 
tỉ lệ này lên tới 30-50% [3] một tỉ lệ rất cao. 
4.4 Bệnh tim trong ba tháng cuối thai kỳ
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phần lớn 
sản phụ có bệnh lý tim kèm theo mang thai con 
so, số lần mang thai cho thấy có xu hướng giảm 
trong khoảng thời gian nghiên cứu. Tuy nhiên, 
số người mang thai lần hai trở lên ở nhóm sản 
phụ này vẫn còn cao, điều này ảnh hường bởi 
nhiều yếu tố. Nghiên cứu tại Ấn Độ cũng cho 
thấy tỉ lệ mang thai con so là 51%, thấp hơn so 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 21 - 25, 2016
25
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
với nhóm chứng [12]. Chính việc điều trị ngày 
càng tốt làm cho tỉ lệ sản phụ có bệnh lý tim 
kèm theo ngày một tăng [14], nhất là bệnh lý 
tim bẩm sinh.
Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu của 
chúng tôi được tiến hành phẫu thuật hoặc can 
thiệp thủ thuật theo chương trình, có nghĩa là 
được chuẩn bị kĩ càng trước khi phẫu thuật, đây 
là việc làm quan trọng nhằm hạn chế các biến 
chứng cho cả mẹ và con [1, 3, 15]. Mổ lấy thai 
được chỉ định khi có chỉ định về mặt sản khoa, 
chỉ những bệnh nhân mắc các bệnh như suy tim 
độ III-IV, bệnh tim có tím, hội chứng Marfan 
thì được chỉ định phẫu thuật lấy thai khi tuổi thai 
38 tuần [14, 15]. Nghiên cứu của Robertson và 
cộng sự cho thấy tỉ lệ mổ lấy thai cao hơn có ý 
nghĩa ở nhóm sản phụ có bệnh lý tim kèm theo 
so với nhóm chứng [12].
Tỉ lệ tử vong ở cả mẹ và con đều có xu hướng 
giảm trong khoảng thời gian nghiên cứu. Đây là 
một nỗ lực lớn của khoa chúng tôi cũng như các 
khoa khác trong việc phối hợp chăm sóc điều 
trị cho những sản phụ có bệnh lý tim kèm theo. 
Tử vong con trong nghiên cứu của chúng tôi chủ 
yếu do phải kết thúc thai kỳ sớm vì lý do sức 
khỏe của mẹ không đảm bảo.
Nghiên cứu của Martins LC với 129 phụ nữ 
mang thai có bệnh lý tim kèm theo thì có tới 34 
(chiếm 26,36%) sản phụ sinh non [6], tuy nhiên 
tác giả này chỉ nghiên cứu nhóm sản phụ mắc 
bệnh thấp tim, còn nghiên cứu của chúng tôi 
nghiên cứu tất cả những sản phụ có bệnh tim 
kèm theo. Nghiên cứu của Robertson JE và cộng 
sự với 559 sản phụ có bệnh lý tim kèm theo thì tỉ 
lệ trẻ sơ sinh phải chuyển đến đơn vị chăm sóc 
sơ sinh tích cực cao hơn có ý nghĩa so với nhóm 
chứng [12].
Việc thực hiện thủ thuật hoặc phẫu thuật ở 
những sản phụ có bệnh lý tim kèm theo luôn 
chấp nhận có nguy cơ cao gặp phải các biến 
chứng trong và sau khi thực hiện thủ thuật. 
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có tỉ lệ khá 
thấp bệnh nhân gặp các biến chứng này. Theo 
nghiên cứu của Sbarouni và cộng sự năm 1994, 
có tới 6 (3,3%) bệnh nhân tử vong trong quá 
trình theo dõi [8]. Một nghiên cứu của Robertson 
JE và cộng sự với 559 sản phụ có bệnh lý tim 
kèm theo được mổ lấy thai hoặc sinh đường 
âm đạo đã cho thấy tỉ lệ chảy máu sau sinh ở 
nhóm có bệnh lý tim kèm theo là 5%, cao hơn 
có ý nghĩa so với nhóm chứng là những sản phụ 
không có bệnh tim [12]. 
Tài liệu tham khảo
1. Ahmad WAW, Khanom M, Yaakob ZH (2011) Heart failure in 
pregnancy: an overview, Int J Clin Pract, 65(8):848-851.
2. Bowater SE, Thorne SA (2010) Management of pregnancy in women 
with acquired and congenital heart disease, Postgrad Med J, 86:100e105.
3. Chamaidi A, Gatzoulis MA (2006) Heart Disease and Pregnancy, 
Hellenic J Cardiol, 47:275-291.
4. Iung B (2012) Heart disease in pregnant women: Recent ESC 
guidelines, Archives of Cardiovascular Disease, 105:57-59.
5. Jindal R, Bajwa SK, Bajwa SJS, Jindal R (2011) Pregnancy in cardiac 
disease: clinical, obstetric and anaesthetic concerns, Sri Lanka Journal of 
Obstetrics and Gynaecology, 33:174-182.
6. Martins LC, Freire CMV, Capuruçu CAB , Carmo M, Nunes P , Lima 
Rezende CA (2015) Risk Prediction of Cardiovascular Complications in 
Pregnant Women With Heart Disease, Arq Bras Cardiol. 2016.
7. Nanna M, Stergiopoulos K (2014) Pregnancy Complicated by Valvular 
Heart Disease: An Update, Journal of the American Heart Association, 3:1-19.
8. Nishimura RA, Warnes CA (2014) Anticoagulation during pregnancy 
in women with prosthetic valves: evidence, guidelines and unanswered 
questions, Heart, 0:1-6.
9. Oakley C, Child A, Iung B et al (2003) Expert consensus document 
on management of cardiovascular diseases during pregnancy, European 
Heart Journal, 24: 761-781.
10. Puri S, Bharti A, Puri S, Mohan B, Bindal V, Verma V (2013) Maternal 
Heart Disease and Pregnancy Outcomes, JK SCIENCE, 15(1): 7-10. 
11. Pushpalatha K (2010) Cardiac Diseases in Pregnancy-A Review, 
JIMSA, 23(4):269-274.
12. Robertson JE, Silversides CK, Mah ML, Kulikowski J, Maxwell 
C, Wald RM, Colman JM, Siu SC, Sermer M (2012) A Contemporary 
Approach to the Obstetric Management of Women with Heart Disease, J 
Obstet Gynaecol Can, 34(9):812-819.
13. Sharma K, Gulati M, Columbus Y (2013) Coronary Artery Disease in 
Women: A 2013 Update, Global Heart, 3(5):1-8.
14. Zagrosek VR (2011) ESC Guidelines on the management of 
cardiovascular diseases during pregnancy, European Heart Journal, 
32:3147-3197.
15. Zagrosek VR, Seeland U, Geibel-Zehender A, Gohlke-Bärwolf C, 
Kruck I, Schaefer C (2011) Cardiovascular Diseases in Pregnancy, Dtsch 
Arztebl Int, 108(16):267-273.

File đính kèm:

  • pdfbenh_ly_tim_o_phu_nu_mang_thai_nghien_cuu_tong_ket_5_nam.pdf