Bảo tồn dây chằng tối đa trong phẫu thuật thay van hai lá hậu thấp tại Bệnh viện Đà Nẵng
Mục tiêu nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu
quả của kỹ thuật bảo tồn dây chằng tối đa trong phẫu
thuật thay van hai lá hậu thấp. Từ 1/2015 đến
12/2015, tại bệnh viện Đà Nẵng, 36 trƣờng hợp bệnh
van hai lá hậu thấp đƣợc thay van nhân tạo, sử dụng
kỹ thuật bảo tồn dây chằng cả lá trƣớc và sau.Kích
thƣớc thất trái đo trên siêu âm tim lúc ra viện giảm
có ý nghĩa thống kê (P<0,01), nhƣngkhông="" có="">0,01),>
khác biệt về phân xuất tống máu (EF) so với trƣớc
mổ.Không có biến chứng hẹp đƣờng ra thất trái,
vỡ thất trái, kẹt van nhân tạo, hoặc tử vong.Kỹ
thuật này có thể thực hiện cho bệnh van hai lá hậu
thấp và cho thấy sự cải thiện tốt chức năng thất trái
trong ngắn hạn
Bạn đang xem tài liệu "Bảo tồn dây chằng tối đa trong phẫu thuật thay van hai lá hậu thấp tại Bệnh viện Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bảo tồn dây chằng tối đa trong phẫu thuật thay van hai lá hậu thấp tại Bệnh viện Đà Nẵng
BẢO TỒN DÂY CHẰNG TỐI ĐA TRONG PHẪU THUẬT THAY VAN HAI LÁ HẬU THẤP ... 3 BẢO TỒN DÂY CHẰNG TỐI ĐA TRONG PHẪU THUẬT THAY VAN HAI LÁ HẬU THẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐÀ NẴNG Nguyễn Minh Hải* TÓM TẮT Mục tiêu nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của kỹ thuật bảo tồn dây chằng tối đa trong phẫu thuật thay van hai lá hậu thấp. Từ 1/2015 đến 12/2015, tại bệnh viện Đà Nẵng, 36 trƣờng hợp bệnh van hai lá hậu thấp đƣợc thay van nhân tạo, sử dụng kỹ thuật bảo tồn dây chằng cả lá trƣớc và sau.Kích thƣớc thất trái đo trên siêu âm tim lúc ra viện giảm có ý nghĩa thống kê (P<0,01), nhƣngkhông có sự khác biệt về phân xuất tống máu (EF) so với trƣớc mổ.Không có biến chứng hẹp đƣờng ra thất trái, vỡ thất trái, kẹt van nhân tạo, hoặc tử vong.Kỹ thuật này có thể thực hiện cho bệnh van hai lá hậu thấp và cho thấy sự cải thiện tốt chức năng thất trái trong ngắn hạn. SUMMARY: Mitral valve replacement with maximum chordal preservation in a rheumatic population at Da Nang hospital.The aim of this study is to investigate theeffect of chordal-sparing mitral valve replacement proceduresin a rheumatic population.Between January and December 2015, 36 patients underwent mitral valve replacement for rheumatic heart disease at Da Nang hospital.Reduction of left ventricular end-systolic and end-diastolic diameteris significant postoperative as compared to preoperative (p <0,01), but ejection fraction do not change statistically.There is no death ormyocardial rupture.Echocardiographic follow-up is complete and there has been no evidence of left ventricular outflow tract obstruction or interference with prosthetic valve function by the retained subvalvular structures.We conclude that maximum chordal preservation is possible in the large majority of rheumatic patients with acceptable operativemortality and satisfactory short-term results. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh van hai lá hậu thấp cho đến nay vẫn khá phổ biến tại Việt Nam. Với các tổn thƣơng van quá nặng không còn phù hợp cho sửa van thì chỉ định thay vantimnhân tạo là cần thiết. Đã có nhiều báo cáo chứng minh việc đảm bảo tính liên tục giữa vòng van hai lá và cơ nhú giúp cải thiện chức năng thất trái sau mổ tốt hơn hẳn so với việc cắt bỏ toàn bộ dây chằng trong phẫu thuật thay van hai lá. Đồng thời việc bảo tồn toàn bộ dây chằng cũng tốt hơn là chỉ bảo tồn dây chằng lá sau [4],[5]. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của kỹ thuật bảo tồn dây chằng tối đa trong phẫu thuật thay van hai láhậu thấp tại bệnh viện Đà Nẵng*. II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu mô tả tiến cứu từ 1/2015 đến 12/2015, tại bệnh viện Đà Nẵng có 36 trƣờng hợp bệnh van hai láhậu thấp đƣợc phẫu thuật thay van nhân tạo cơ học. Loại khỏi nghiên cứu các trƣờng hợp thay van hai lá không do thấphoặc kèm theo bắc cầu động mạch vành.Các trƣờng hợp có chỉ định sửa van hai lá cũng loại khỏi nghiên cứu này. Tất cả bệnh nhân đều đƣợc chuẩn bị trƣớc mổ, kỹ thuật thực hiện, chăm sóc hậu phẫu và theo dõi sau mổ theo một chƣơng trình soạn sẵn.Số liệu đƣợc phân tích và xử lý bằng phần mềm SPSS. Kỹ thuật mổ: qua đƣờng mở dọc giữa xƣơng ức, máy tim phổi nhân tạo đƣợc thiết lập, bảo vệ cơ tim bằng dung dịch liệt tim máu lạnh 4oC – 8oC, không hạ thân nhiệt. Tiếp cận van hai lá qua đƣờng mở nhĩ trái hoặc vách liên nhĩ.Cắt rời lá trƣớc ra * Bệnh viện Đà Nẵng Người chịu trách nhiệm khoa học: Nguyễn Minh Hải Ngày nhận bài: 05/04/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 05/05/2016 Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng GS.TS. Lê Ngọc Thành PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 13 - THÁNG 5/2016 4 khỏi vòng van cũng nhƣ lá sau tại hai mép van.Tiếp tục xẻ đôi lá trƣớc ở vị trí 12 giờ để chia thành hai nhóm dây chằng tƣơng ứng với hai cơ nhú.Loại bỏ các mô lá van vàdây chằng lá trƣớc đã dầy dính, co rút, vôi hoá nặng.Các dây chằng còn tốt của cột cơ trƣớc bên và sau giữa đƣợc bảo tồn cùng với dải mô lá van rộng từ 5 đến 10mm và lần lƣợt đƣợckhâu lại vào vòng van tại vị trí 9 giờ và 3giờ tƣơng ứng. Sử dụng chính các mũi chỉ chữ „U‟ khâu van tim nhân tạo để gắn các dây chằng lá trƣớc vào vòng van. Nếu dải mô lá van gắn với dây chằng thừa nhiều mà không thể cắt nhỏ hơn, cần chú ý dùng móc (hook) kéo về phía nhĩ của vòng van khi buộc chỉ khâu van để tránh mô thừa gây hẹp đƣờng ra thất trái hoặc ảnh hƣởng đến hoạt động của van nhân tạo. Lá sau van hai lá đƣợc xẻ từ bờ tự do cho đến sát vòng van ở vị trí 6 giờ, có thể xẻ thêm 2-3 đƣờng tƣơng tự để chia lá sau làm nhiều đoạn nhằm làm tăng thêm diện tích lỗ van và đặt đƣợc van nhân tạo lớn hơn.Loại bỏ các mô van vôi hoá cũng nhƣ các dây chằng bị dầy dính, co rút quá nặng trên lá sau.Mô thừa lá van đƣợc khâu gấp cuộn vào vòng van bằngchính các mũi rời chữ „U‟ dùng khâu van nhân tạo.Sau khi đã buộc chỉ khâu van, cần kiểm tra và cắt gọt bớt các mô thừa và dây chằng nếu còn gây ảnh hƣởng đến hoạt động của van nhân tạo.Khi tổn thƣơng van hai lá quá nặng buộc phải cắt bỏ toàn bộ dây chằng, chỉ Gore-Tex 4/0 đƣợc sử dụng để làm dây chằng nhân tạo.Dùng mũi chữ „X‟ khâu qua phần đỉnh xơ của cơ nhú trƣớc bên và sau giữa, sau đấy lần lƣợt khâu xuyên qua vòng van ở vị trí 9 giờ và 3 giờ tƣơng ứng. Các mũi chỉ này tiếp tục đƣợc khâu qua van hai lá nhân tạo, và từng sợi đƣợc buộc lại sau khi đã đặt van nhân tạo vào đúng vị trí cũng nhƣ đã buộc xong các mũi chỉ khâu van. Cần chú ý độ dài của chỉ Gore-Tex sao cho vừa phải để cơ nhú cũng nhƣ dây chằng nhân tạo không quá căng hay quá lỏng. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Từ tháng 1/2015 đến 12/2015 đã có 36 trƣờng hợp tổn thƣơng van hai lá do thấp đƣợc chỉ định phẫu thuật thay van hai lá nhân tạo cơ học và bảo tồn dây chằng tối đa. Các phẫu thuật phối hợp đồng thời bao gồm: thay van động mạch chủ (22,2%); sửa van ba lá (58,3%); lấy huyết khối và khâu tiểu nhĩ trái (13,9%). Các dây chằng van hai lá còn tốt đều đƣợc giữ lại, chỉ có 3 trƣờng hợp toàn bộ dây chằng của một cơ nhú bị tổn thƣơng nặng phải cắt bỏ nên đƣợc thay thế bằng chỉ Goretex (bảng 1). Bảng 3.1: Dây chằng được bảo tồn Dây chằng đƣợc bảo tồn Thông số Lá trƣớc Hai nhóm dây chằng 22(61,1%) Một nhóm dây chằng 12 (33,3%) Không bảo tồn đƣợc 2 (5,6%) Lá sau Toàn bộ dây chằng 14 (38,9%) 2/3 dây chằng 13 (36,1%) 1/2 dây chằng 9 (25%) Thời gian thở máy trung bình sau mổ là 20,2±23,4 giờ. Có 15 trƣờng hợp sử dụng kết hợp dobutamine và adrenaline sau mổ, số còn lại chỉ dùng một loại thuốc vận mạch với thời gian trung bình là 2,7±2,1 ngày. Kích thƣớc thất trái đo trên siêu âm tim sau mổ giảm có ý nghĩa thống kê so với trƣớc mổ (P<0,01), nhƣng không có sự khác biệt về phân xuất tống máu (EF) (bảng 2). BẢO TỒN DÂY CHẰNG TỐI ĐA TRONG PHẪU THUẬT THAY VAN HAI LÁ HẬU THẤP ... 5 Bảng 3.2: Thay đổi trên siêu âm tim Trƣớc mổ Sau mổ P LVIDd(mm) 48,08±8,89 44,94±6,84 0,004 LVIDs(mm) 32,64±7,91 30,22±6,33 0,007 EF(%) 60,44±7,93 60,64±7,18 0,893 Ba loại van hai lá nhân tạo đƣợc sử dụng: 7 ca dùng số 25; 27 ca dùng số 27 và chỉ có 2 ca dùng số 29. Chênh áp tối đa qua van nhân tạo là 9,2±2,8 mmHg và không có có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các cỡ van khác nhau. Theo dõi cho đến nay, không có trƣờng hợp nào bị hẹp đƣờng ra thất trái, vỡ thất trái, kẹt van hai lá nhân tạo, hoặc tử vong. IV. BÀN LUẬN Các tổn thƣơng van hai lá đặc biệt là do hậu thấp không phải lúc nào cũng có thể sửa chữa thành công. Khi đó, thay van tim nhân tạo là giải pháp duy nhất để điều trị cho ngƣời bệnh. Đã có nhiều tác giả nêu lên tầm quan trọng của việc bảo tồn dây chằng trong phẫu thuật thay van hai lá.Nó không chỉ giúp cải thiện chức năng thất trái ngắn hạn cũng nhƣ lâu dài tốt hơn so với phẫu thuật thay van hai lá kinh điển với dây chằng bị cắt bỏ, mà còn ngăn ngừa biến chứng rất nặng sau mổ là nguy cơ vỡ thất trái nhờ vẫn đảm bảo tính liên tục của thất trái và vòng van hai lá [1],[2],[4]. Việc bảo tồn dây chằng cần đảm bảo ba nguyên tắc cơ bản: không gây hẹp đƣờng ra thất trái; mô van giữ lại không ảnh hƣởng đến hoạt động của van nhân tạo;và phải đặt đƣợc cỡ van phù hợp với ngƣời bệnh [1],[2]. Cả 36 trƣờng hợp thay van hai lá trong nghiên cứu này đều do tổn thƣơng thấp, vì vậy toàn bộ hệ thống dây chằng và mô lá van đều bị dầy dính, co rút và vôi hoá ở các mức độ khác nhau tuỳ từng bệnh nhân. Về lâu dài sau mổ các cấu trúc van hai lá đƣợc bảo tồn có nguy cơ tiếp tục tiến triển tổn thƣơng thấp gây ảnh hƣởng đến hoạt động của van tim nhân tạo. Do vậy, chúng tôichỉchọn lọc giữ lại những mô lá van chƣa bị vôi hoá, nhữngdây chằng còn tƣơng đối mềm mại và không bịdầy dính, co ngắn nhiều.Đối với các dây chằng lá trƣớc giữ lại đƣợc chia làm hai nhóm gắn với dải mô lá van: nhóm tƣơng ứng với cột cơ nhú trƣớc bên sẽ khâu lại vào vòng van hai lá ở vị trí 9 giờ; nhóm còn lại tƣơng ứng với cơ nhú sau giữa sẽ khâu vào vị trí 3 giờ.Kỹ thuậtgiữ toàn bộ dây chằng lá trƣớc và gắn lại vào vòng van tƣơng ứng với vị trí giải phẫu[1],[3] thƣờng không phù hợp cho các tổn thƣơng do thấp vì nhiều khả năng làm hạn chếhoạt động của van nhân tạo. Ngay cả với lá van sau, nhiều tác giả chỉ sẻ lá van thành hai hoặc nhiều đoạn và giữ toàn bộ dây chằng [1],[2],[4] nhƣng chúng tôi chủ động loại bỏ tất cả tổn thƣơng vôi hoá cũng nhƣ những dây chằng đã dầy dính và co rút nặng. Nhờ vậy, theo dõi cho đến nay chƣa ghi nhận trƣờng hợp nào bị hẹp đƣờng ra thất trái hoặc kẹt van tim nhân tạo cơ học do cấu trúc đƣợc bảo tồn gây ra. Trong bệnh van tim hậu thấp, việc giữ đƣợc tất cả dây chằng van hai lá thƣờng rất khó khăn. Chúng tôi cố gắng đảm bảo sao cho mỗi cơ nhú đều có dây chằng đƣợc bảo tồn.Tuy vậy, trong nghiên cứu nàycó 3 trƣờng hợp cả dây chằng lá trƣớc và lá sau của cùng một cơ nhú bịtổn thƣơng nặng phải loại bỏ nên chúng tôi đã sử dụng chỉ Goretex 4/0 để làm dây chằng nhân tạo thay thế. Mỗi cơ nhú chỉ cần làm một dây chằng và chiều dài của nó đƣợc đo tƣơng đƣơng với dây chằng giữ lại của ngƣời bệnh. Cách đo độ dài nhƣ vậy sẽ tránh việc dây chằng nhân tạo quá ngắn gây nguy cơ đứt cơ nhú về sau, PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 13 - THÁNG 5/2016 6 hoặc quá dài sẽ không còn tác dụng cải thiện chức năng thất trái. Khi bảo tồn dây chằng tối đa, thƣờng sẽ phải đặt cỡ van hai lá nhân tạo nhỏ hơn. Khoảng hơn 80% trƣờng hợp trong nghiên cứu này đƣợc sử dụng van số 27 và 29, gần 20% còn lại dùng van số 25. Tuy nhiên chúng tôi không nhận thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chênh áp tối đa qua van hai lá nhân tạo đo trên siêu âm tim sau mổ ở các loại cỡ van khác nhau. Trong nghiên cứu này, không ghi nhận trƣờng hợp nào bị vỡ thất trái hoặc tử vong trong và sau mổ. Đặc biệt chức năng thất trái đƣợc cải thiện sớm ngay sau mổ với thời gian thở máy trung bình sau mổ là 20,2±23,4 giờ. Có 41,7% trƣờng hợp sử dụng kết hợp dobutamine và adrenaline sau mổ, số còn lại chỉ dùng một loại thuốc với thời gian dùng thuốc vận mạch trung bình là 2,7±2,1 ngày và liều thuốc từtrung bình đến thấp. Ngay khi xuất viện, kích thƣớc thất trái đo trên siêu âm tim sau mổ giảm có ý nghĩa thống kê (P<0,01),đồng thời không có sự suy giảmvề phân suất tống máu thất trái so với trƣớc mổ. V. KẾT LUẬN Việc bảo tồn dây chằng tối đa trong phẫu thuật thay van hai lá hậu thấp khôngquá phức tạp về kỹ thuật.Trong ngắn hạn, cho thấy sự cải thiện tốt chức năng thất trái.Tuy nhiên về lâu dài, cần tiếp tục nghiên cứu,đánh giá các nguy cơ do tổn thƣơng thấp tác động đến van nhân tạo trên một cỡ mẫu đủ lớn. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Colleen F. Sintek, MD, Thomas A. Pfeffer, MD, Gary S. Kochamba, MD, and Siavosh Khonsari, MD.Mitral Valve Replacement: Technique to Preserve the Subvalvular Apparatus. Ann Thorac Surg 1995;59:1027-9. 2. Faruk Cingo¨ z, M.D., Celalettin Gu¨ nay, M.D., Erkan Kuralay, M.D., et al.Both Leaflet Preservation During Mitral Valve Replacement: Modified Anterior Leaflet Preservation Technique. J Card Surg 2004;19:528-534. 3. Hideki Sasaki, Kenji Ihashi. Chordal-sparing mitral valve replacement: pitfalls and techniques to prevent complications. European Journal of Cardio-thoracic Surgery 24 (2003) 650–652. 4. Kwok L. Yun, MD; Colleen F. Sintek, MD; D. Craig Miller, MD; et al. Randomized Trial of Partial Versus Complete Chordal Preservation Methods of Mitral Valve Replacement. Circulation. 1999;100[suppl II]:II-90 –II-94. 5. Ujjwal K. Chowdhury, MCh, A. Sampath Kumar, MCh, Balram Airan, MCh, et al. Mitral Valve Replacement With and Without Chordal Preservation in a Rheumatic Population: Serial Echocardiographic Assessment of Left Ventricular Size and Function. Ann Thorac Surg 2005;79:1926 –33.
File đính kèm:
bao_ton_day_chang_toi_da_trong_phau_thuat_thay_van_hai_la_ha.pdf

