Báo cáo trường hợp: loạn sản trung mô bánh nhau

Đặt vấn đề: Loạn sản trung mô bánh nhau là một bất thường mạch

máu hiếm gặp, đặc trưng bởi sự quá sản các thân nhung mao ở màng

đệm. Cần phải chẩn đoán phân biệt một cách chính xác loạn sản trung

mô bánh nhau với các bệnh lý như chửa trứng bán phần, song thai có

một thai bình thường và một thai trứng toàn phần hay nhau thể khảm vì

tiên lượng và điều trị hoàn toàn khác nhau. Việc theo dõi và tiên lượng

loạn sản trung mô bánh nhau rất quan trọng vì tình trạng này liên quan

đến một số kết cục thai kỳ không tốt trên sản phụ lẫn thai nhi.

Báo cáo trường hợp lâm sàng: 02 trường hợp loạn sản trung mô bánh

nhau được chẩn đoán và theo dõi ngoại trú tại khoa Phụ Sản, Bệnh viện

Đại học Y Dược Huế trong suốt thai kỳ. Mô bệnh học và hình ảnh đại

thể bánh nhau sau sinh cho thấy phù hợp với chẩn đoán loạn sản trung

mô bánh nhau với các đặc điểm siêu âm tiền sản, kết quả tương tự với

các nghiên cứu đã được công bố trên thế giới. Kết quả thai kỳ không có

các biến chứng trên thai phụ, tuy nhiên 1 trong 2 trường hợp có nghi ngờ

tình trạng chậm tăng trưởng trong tử cung.

Kết luận: Cần thiết phải khảo sát hình thái học thai nhi kỹ có hướng

chẩn đoán. Nên chọc ối để loại trừ hoàn toàn thai trứng bán phần. Loạn

sản trung mô bánh nhau có liên quan đến một số biến chứng trong thai

kỳ, tuy nhiên đây là bệnh lý lành tính vì vậy cần theo dõi sát sự phát triển

của thai và sự xuất hiện các biến chứng nếu có.

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo trường hợp: loạn sản trung mô bánh nhau", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Báo cáo trường hợp: loạn sản trung mô bánh nhau

Báo cáo trường hợp: loạn sản trung mô bánh nhau
NGUYỄN HOÀNG LONG, HÀ TỐ NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC
172
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
Nguyễn Hoàng Long(1), Hà Tố Nguyên(2), Võ Văn Đức(1) 
(1) Trường Đại học Y Dược Huế, (2) Bệnh viện Từ Dũ
BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP:
LOẠN SẢN TRUNG MÔ BÁNH NHAU
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Hoàng Long, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Keyword: Placental 
mesenchymal dysplasia, fetal 
growth, pregnancy outcomes.
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Loạn sản trung mô bánh nhau là một bất thường mạch 
máu hiếm gặp, đặc trưng bởi sự quá sản các thân nhung mao ở màng 
đệm. Cần phải chẩn đoán phân biệt một cách chính xác loạn sản trung 
mô bánh nhau với các bệnh lý như chửa trứng bán phần, song thai có 
một thai bình thường và một thai trứng toàn phần hay nhau thể khảm vì 
tiên lượng và điều trị hoàn toàn khác nhau. Việc theo dõi và tiên lượng 
loạn sản trung mô bánh nhau rất quan trọng vì tình trạng này liên quan 
đến một số kết cục thai kỳ không tốt trên sản phụ lẫn thai nhi. 
Báo cáo trường hợp lâm sàng: 02 trường hợp loạn sản trung mô bánh 
nhau được chẩn đoán và theo dõi ngoại trú tại khoa Phụ Sản, Bệnh viện 
Đại học Y Dược Huế trong suốt thai kỳ. Mô bệnh học và hình ảnh đại 
thể bánh nhau sau sinh cho thấy phù hợp với chẩn đoán loạn sản trung 
mô bánh nhau với các đặc điểm siêu âm tiền sản, kết quả tương tự với 
các nghiên cứu đã được công bố trên thế giới. Kết quả thai kỳ không có 
các biến chứng trên thai phụ, tuy nhiên 1 trong 2 trường hợp có nghi ngờ 
tình trạng chậm tăng trưởng trong tử cung. 
Kết luận: Cần thiết phải khảo sát hình thái học thai nhi kỹ có hướng 
chẩn đoán. Nên chọc ối để loại trừ hoàn toàn thai trứng bán phần. Loạn 
sản trung mô bánh nhau có liên quan đến một số biến chứng trong thai 
kỳ, tuy nhiên đây là bệnh lý lành tính vì vậy cần theo dõi sát sự phát triển 
của thai và sự xuất hiện các biến chứng nếu có.
Abstract 
PLACENTAL MESENCHYMAL DYSPLASIA: 
CASE REPORT 
Introduction: Placental mesenchymal dysplasia (PMD) is a rare vascular 
anomaly characterized by mesenchymal stem villous hyperplasia. it is 
important to distinguish PMD from partial hydatidiform mole or a twin 
pregnancy with a normal fetus and coexistent complete mole and 
placenta mosacism due to the completely difference in prediction and 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 172 - 177, 2017
173
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
prognosis. It is also crucial to manage PMD because the association between this problem and severe 
pregnancy outcomes. 
Case report: 02 outpatient PMD cases was diagnosed and monitored at Obstetrics and Gynecology 
Department, Hue University Hospital during pregnancy. The placental histopathologic and grossly 
findings correspond to the diagnosis of PMD and the prenatal ultrasound findings. The results was 
similar with other publications worldwide. There was no severe pregnancy outcomes on two pregnant 
woman, but 1 of 2 fetus was suspected intrauterine growth restriction. 
Conclusion: It is necessary to evaluate morphology carefully to make a sutable diagnosis. 
Amniocentesis should be thought. PMD relates to some pregnancy outcomes, however it is a benign 
disease so we should evaluate carefully the fetal growth and pregnancy outcomes. 
Keywords: Placental mesenchymal dysplasia, fetal growth, pregnancy outcomes.
1. Đặt vấn đề 
Loạn sản trung mô bánh nhau là một bất 
thường mạch máu hiếm gặp, tỷ lệ ước tính khoảng 
0,02% trên tổng số thai kỳ, đặc trưng bởi tình trạng 
tăng sản thân nhung mao ở màng đệm. Các đặc 
điểm đại thể của loạn sản trung mô bánh nhau bao 
gồm bánh nhau lớn, dãn các mạch máu nguyên 
bào nuôi, có những vùng chiếm dịch tích lớn có vi 
nhung mao dạng nang bên cạnh vùng mô nhau 
bình thường. Hình ảnh vi thể bao gồm loạn sản 
trung mô của bánh nhau với các mạch máu có 
thành dày, giãn phình các mạch máu thân nhung 
mao và có thể có tăng sinh mạch máu và tế bào 
liên kết mức độ vừa tại thân nhung mao. Tại thời 
điểm quý 1, các đặc điểm của Loạn sản trung mô 
bánh nhau trên siêu âm tương tự với bệnh lý thai 
trứng, như bánh nhau lớn có nhiều nang và những 
tổn thương giảm âm. Mặc dù đa số các trường hợp 
loạn sản trung mô bánh nhau đều có hình thai học 
thai nhi bình thường, đặc điểm phân biệt với thai 
trứng, tuy nhiên cần phải chẩn đoán phân biệt 
loạn sản trung mô bánh nhau với thai trứng bán 
phần hoặc song thai có một thai bình thường và 
một thai trứng toàn phần cùng tồn tại vì tiên lượng 
và điều trị hoàn toàn khác nhau.
Loạn sản trung mô bánh nhau có liên quan 
đến rất nhiều biến chứng kể cả ở thai phụ lẫn 
thai nhi, vì vậy việc theo dõi lâm sàng kỹ là 
điểm chính yếu khi chẩn đoán bệnh lý này, bao 
gồm đánh giá sự phát triển của thai, các chỉ số 
sinh học, các chỉ số doppler như động mạch 
rốn, động mạch não giữa và ống tĩnh mạch. Có 
khoảng 20% các trường hợp loạn sản trung mô 
bánh nhau có liên quan đến hội chứng Beckwith 
– Wiedemann (thường có các triệu chứng như 
thai to, lưỡi to, thoát vị rốn, tật cằm nhỏ, các 
dấu hiệu ở mặt – não, bất thường tai). Những 
trường hợp thai không kèm hội chứng Beckwith – 
Wiedemann, tỷ lệ thai chậm tăng trưởng trong 
tử cung và tỷ lệ thai chết trong tử cung lần lượt 
là 50% và 40%. Tỷ lệ sinh non là 53%, ối vỡ non 
và chấm dứt thai kỳ lần lượt là 17% và 19%. 
Tương tự, các biến chứng trên thai phụ có thể kể 
đến tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật và sản 
giật chiếm 9%. Chỉ có 9% các trường hợp loạn 
sản trung mô bánh nhau không đi kèm các biến 
chứng trên thai phụ và sơ sinh. 
Việc hiểu rõ bản chất và các tính chất đặc 
trưng của loạn sản trung mô bánh nhau có thể 
giúp giảm thiểu được việc chấm dứt thai kỳ không 
đúng cũng như theo dõi các biến chứng tốt hơn 
khi chẩn đoán loạn sản trung mô bánh nhau. Hai 
trường hợp loạn sản trung mô bánh nhau đã được 
theo dõi và chẩn đoán tại trung tâm của chúng tôi 
dựa vào các đặc điểm hình ảnh trước sinh và mô 
bệnh học sau sinh.
Đến ngày 08/03/2017, sản phụ nhập viện tại 
đơn vị của chúng tôi vì lí do vỡ ối. Sản phụ được chỉ 
định mổ lấy thai. Kết quả mổ lấy thai: sinh ra 01 bé 
Gái, cân nặng 2800 gram, chỉ số Apgar 8 điểm tại 
thời điểm 1 phút, 9 điểm tại thời điểm 5 phút. Trẻ 
hồng hào, bú tốt. Không phát hiện bất thường về 
mặt hình thái học. 
Kiểm tra bánh nhau thấy bánh nhau lớn, kích 
thước 40x40 cm, có nhiều cấu trúc dạng túi nước 
nhỏ dạng chùm nho ở vùng mô bất thường, có một 
phần mô nhau bình thường về mặt đại thể. Bề mặt 
thai của bánh nhau có nhiều mạch máu giãn lớn, 
ngoằn nghoèo. Kết quả mô học cho thấy không có 
hiện tượng tăng sinh tế bào nuôi, có hình ảnh các 
mạch máu vi nhung mao giãn lớn.
NGUYỄN HOÀNG LONG, HÀ TỐ NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC
174
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
2. Trường hợp lâm sàng
Trường hợp thứ 1: 
Sản phụ Nguyễn Thị B. N., 28 tuổi. Nghề 
nghiệp: điều dưỡng. Mang thai lần thứ 2 PARA 
(1001). Không có tiền sử bệnh lý về cá nhân, gia 
đình và chồng. Lần mang thai trước mổ lấy thai do 
thai to 4200 gram, không có bất thường trong quá 
trình mang thai. Sản phụ đi khám lần tiên vào thời 
điểm 06/08/2016, ghi nhận thai 7 tuần 2 ngày 
có tim thai, bóc tách túi thai 30% tại phòng khám 
tư nhân. Quá trình theo dõi đến thời điểm 16 tuần 
chưa phát hiện bất thường về mặt siêu âm, sản phụ 
không có triệu chứng và dấu chứng gì bất thường 
về mặt lâm sàng. Ngày 14/10/2016, sản phụ 
được siêu âm tại phòng khám tư nhân với mô tả 
trên siêu âm bánh nhau có nhiều vùng echo trống, 
được chẩn đoán thai 16 tuần 4 ngày theo dõi thai 
trứng bán phần, đề nghị nhâp viện. 
Một ngày sau đó, sản phụ chuyển viện đến 
khoa Phụ Sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế. Tại 
đây, chúng tôi ghi nhận 01 thai 17 tuần có hình 
thái học bình thường về mặt siêu âm, bánh nhau có 
dạng hình tổ ong chiếm 2/3 bánh nhau, 1/3 bánh 
nhau có cấu trúc bình thường. Dây rốn bám vào 
vùng mô nhau bất thường. Chẩn đoán được đưa ra 
ở trường hợp này là thai 17 tuần theo dõi loạn sản 
trung mô bánh nhau. Sản phụ được tư vấn và đồng 
ý chọc ối. Kết quả bộ NST bình thường là 46,XX. 
Sản phụ được tư vấn tiếp tục theo dõi sự phát triển 
thai kỳ và đánh giá sự tăng trưởng của thai 4 tuần/lần 
với các nguy cơ cho thai và cho sản phụ đã được trình 
bày ở trên. Trong quá trình theo dõi, chúng tôi ghi 
nhận, các số đo sinh học của thai nhi đều nằm trong 
khoảng bách phân vị từ 10th đến 90th, chỉ số nước ối 
trong giới hạn bình thường, không phát hiện các bất 
thường về mặt hình thái học thai nhi, không có bất 
thường trên Doppler màu. Bánh nhau vẫn còn dạng 
tổ ong với tỷ lệ nhau tổ ong/nhau bình thường là 2/1. 
Hình 1. Hình ảnh siêu âm bánh nhau có dạng hình tổ ong của sản phụ N., 28 tuổi.
Ngày siêu âm 19/11/2016 20/12/2016 19/01/2017 17/02/2017 08/03/2017
Tuổi thai 21 tuần 26 tuần 31 tuần 35 tuần 38 tuần
Hình thái học Bình thường Bình thường Bình thường Bình thường Bình thường
Cân nặng (g) 397 841 1730 2252 2687
Bánh nhau
Dạng hình 
tổ ông 
kích thước 
10x10x4 
mm
Kích thước 
bánh nhau tổ 
ong 114x65 
mm
Hình ảnh tổ ong 
toàn bộ bánh 
nhau. Bên trong 
có khối xuất huyết 
8x6x4 cm. Nhau 
tiền bám thấp
Hình ảnh tổ 
ong chiếm 
toàn bộ bánh 
nhau. 
Bánh nhau 
có dạng hình 
tổ ong, kích 
thước các hốc 
giảm so với 
trước đây.
Nước ối Bình thường Bình thường Bình thường Bình thường Bình thường
Doppler màu
Trở kháng 
động mạch 
rốn bình 
thường
Không khảo 
sát Không khảo sát
Không khảo 
sát
Không khảo 
sát
Bảng 1. Chỉ số sinh học trên siêu âm của trường hợp sản phụ N., 28 tuổi
Hình 2. Hình ảnh đại thể bánh nhau sản phụ B.N., 28 tuổi.
Hình A: nhiều mạch máu tăng sinh giãn lớn, kích thước bánh nhau lớn
Hình B: vùng mô nhau bất thường với nhiều hình ảnh túi nước. 
Hình 3. Hình ảnh mô bệnh học bánh nhau vùng bất thường của sản phụ B. N., 28 tuổi
Hình A: Hình ảnh lông nhau neo với các mạch máu giãn rộng, thành mạch dày 
Hình B: Hàng tế bào biểu mô nuôi nhỏ, đều, không có hình ảnh quá sản (mũi tên); tăng sinh 
các tế bào mô đệm của lông nhau.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 172 - 177, 2017
175
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Ghi nhận nồng độ hCG sau sinh là 1075 mIU/
ml, sau 1 tuần 7.05 mIU/ml, và âm tính trong lần 
xét nghiệm sau đó 4 tuần.
Trường hợp thứ 2:
Sản phụ Nguyễn Thị H., 35 tuổi. Nghề nghiệp: 
công nhân may. Sản phu mang thai lần thứ 3 
PARA (1011). Không có tiền sử bệnh lý về cá nhân, 
gia đình và chồng. Lần mang thai sinh thường, 
không có bất thường trong quá trình mang thai, 
bổ sung viên sắt và đảm bảo dinh dưỡng. Sản phụ 
có đi khám thai thường xuyên, không phát hiện bất 
thường trên siêu trong quý 1 của thai kỳ. Sản phụ 
vào đơn vị siêu âm sàng lọc trước sinh để siêu âm 
sàng lọc quý II ngày 16/2/2017. Tại đây, chúng 
tôi nhận thấy hình thái học thai nhi không có bất 
thường, tuy nhiên bánh nhau có nhiều hốc nhỏ 
dạng tổ ong, phần nhau bất thường chiếm phần 
lớn diện tích của bánh nhau, dây rốn bám vào 
vùng nhau bất thường. Sản phụ được chẩn đoán 
loạn sản trung mô bánh nhau, tuy nhiên sản phụ 
không đồng ý chọc ối và được tư vấn theo dõi mỗi 
4 tuần. Trong quá trình theo dõi sau đó, chúng tôi 
ghi nhận thai phát triển bình thường, tỷ lệ mô nhau 
bất thường/bình thường không thay đổi, kích thước 
các hốc trên siêu âm có xu hướng giảm dần. 
Đến thời điểm 30 tuần, chúng tôi ghi nhận 
trọng lượng thai nhỏ hơn bách phân vị thứ 10th, 
tăng trở kháng động mạch rốn (PI= 1,82), không 
có hình ảnh mất sóng/đảo ngược sóng tâm trương 
độnh mạch rốn, chưa có biến đổi trên doppler 
động mạch não giữa, và ống tĩnh mạch, chỉ số 
rốn/não < 1,1. Sản phụ được chẩn đoán thai 30 
tuần, chậm tăng trưởng trong tử cung độ I, loạn sản 
trung mô bánh nhau. Sản phụ được tư vấn theo dõi 
mỗi 2 tuần. Các lần siêu âm tiếp theo đều cho kết 
quả tương tự.
Đến thời điểm 14/06/2017, sản phụ vào viện 
vì lý do đau bụng chuyển dạ. Kết quả CTG nhóm 
Hình 4. Hình ảnh siêu âm của sản phụ H.
Bánh nhau có dạng hình tổ ong và các chỉ số sinh học đều nhỏ hơn bách phân vị thứ 10th theo 
tuổi thai. 
16/02/2017 16/03/2017 14/04/2017 03/05/2017 17/05/2017 02/06/2017
Tuổi thai 23 tuần 27 tuần 31 tuần 34 tuần 36 tuần 38 tuần
Hình thái 
học Bình thường Bình thường Bình thường Bình thường Bình thường Bình thường
Cân nặng 
(gram) 417 699
1130 (< 
10th)
1478 
(<10th)
1951 
(<10th)
2361 
(<10th)
Bánh nhau Dạng hình tổ ong
Dạng hình 
tổ ong
Dạng hình 
tổ ong
Dạng hình 
tổ ong
Dạng hình 
tổ ong
Dạng hình 
tổ ong
Nước ối Bình thường Bình thường Bình thường Bình thường Bình thường Bình thường
Doppler 
màu
Không khảo 
sát
Không khảo 
sát
Tăng trở 
kháng động 
mạch rốn, 
Chỉ số não 
rốn < 1,1
Chỉ số não 
rốn > 1,1
Chỉ số não 
rốn > 1,1
Chỉ số não 
rốn < 1,1
Bảng 2. Chỉ số sinh học trên siêu âm của trường hợp sản phụ H., 34 tuổi
1, sản phụ được chỉ định cho sinh thường. Kết quả 
sinh thường: 01 bé trai, cân nặng 2600 gram, chỉ 
số Apgar 8 điểm tại thời điểm 1 phút và 9 điểm tại 
thời điểm 5 phút. Trẻ hồng hào, bú tốt, phản xạ 
bình thường. Không phát hiện bất thường về mặt 
hình thái. Bánh nhau về mặt đại thể: kích thước 
Hình 5. Hình ảnh đại thể bánh nhau của sản phụ H., 34 tuổi
Hình A: nhiều mạch máu tăng sinh giãn lớn, kích thước bánh nhau bình thường
Hình B: vùng mô nhau bất thường (bên phải) với nhiều hình ảnh túi nước.
Hình 5. Hình ảnh mô bệnh học bánh nhau vùng bất thường của sản phụ H., 28 tuổi
Hình A: Hình ảnh lông nhau neo (stem villi) với các mạch máu giãn rộng, thành mạch dày 
Hình B: Hàng tế bào biểu mô nuôi nhỏ, đều, không có hình ảnh quá sản.
Trường hợp Trường hợp 1 Trường hợp 2
Tuổi mẹ 28 34
Tiền sử sản khoa 1001 1011
Phương pháp thụ thai Tự nhiên Tự nhiên
Bộ nhiễm sắc thể thai nhi 46, XX Không làm
Kết quả thai kỳ Thai sống (36 tuần) Thai sống/ chậm tăng trưởng (38 tuần)
Phương pháp kết thúc thai kỳ Mổ lấy thai Sinh thường
Kích thước bánh nhau 44 x 40 cm 20x20 cm
Tỷ lệ mô nhau bình thường 30% 40%
Vị trí dây rốn bám Vùng mô nhau bất thường Vùng mô nhau bất thường
Bảng 3. Đặc điểm lâm sàng hai trường hợp loạn sản trung mô bánh nhau
NGUYỄN HOÀNG LONG, HÀ TỐ NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC
176
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
không lớn 20 x 20 cm, bề mặt thai của bánh nhau 
có vài mạch máu tăng sinh giãn lớn, mô nhau bất 
thường chiếm 2/3 bánh nhau, bên trong có nhiều 
cấu trúc dạng bọng nước nhỏ.
Kết quả mô bệnh học: trục liên kết thoái hóa 
nước, tế bào liên kết giảm, quá sản tế bảo biểu mô 
nuôi mức độ vừa . Sản phụ không theo dõi βhCG. 
3. Bàn luận
Loạn sản trung mô bánh nhau là một bệnh lý 
hiếm gặp và đôi khi được xem là một “cái bẫy” 
của bác sĩ sản phụ khoa và bác sĩ siêu âm. Tỷ lệ 
loạn sản trung mô bánh nhau hiện nay ghi nhận 
là 0,02% trong tổng số thai kỳ [3], [4]. Thực tế, từ 
trường hợp được mô tả đầu tiên trên thế giới bởi 
Moscoso và cộng sự năm 1991 [5] đến năm 2013, 
có 212 trường hợp loạn sản trung mô bánh nhau 
đã được công bố trong y văn thế giới [7]. Những 
tính chất của loạn sản trung mô bánh nhau trên 
siêu âm trong quí một của thai kỳ rất giống với các 
trường hợp thai trứng bán phần hoặc song thai có 
một thai bình thường và một thai trứng toàn phần 
cùng tồn tại hoặc nhau thể khảm. Vì vậy, việc đưa 
ra chẩn đoán phân biệt trong giai đoạn sớm của 
thai kỳ là rất quan trọng do tiên lượng và xử trí 
hoàn toàn khác nhau. Hình ảnh bánh nhau của 
các dạng này đều được mô tả tương tự nhau là có 
bánh nhau có hình ảnh tổ ong. Để loại trừ trường 
hợp song thai có một thai trứng toàn phần cùng tồn 
tại, có thể trên hình ảnh siêu âm sẽ tương đồng với 
loạn sản trung mô bánh nhau, nhưng có thể dựa 
vào các triệu chứng lâm sàng của thai trứng toàn 
phần để loại trừ như nồng độ βhCG tăng cao > 
100.000 mUI/ml, tử cung lớn hơn tuổi thai thông 
thường, nôn nghén nhiều, có nang hoàng tuyến hai 
bên, cường giáp. Khó khăn nhất trong việc chẩn 
đoán phân biệt bệnh lý này trong giai đoạn sớm 
của thai kỳ là thai trứng bán phần, vì triệu chứng 
lâm sàng thường không đặc hiệu, hình ảnh trên 
siêu âm tương tự nhau với một phần bánh nhau có 
dạng tổ ong và đi kèm với một thai trong tử cung. 
Để nghi ngờ loạn sản trung mô bánh nhau, cần 
khảo sát kỹ hình thái học thai nhi. Trong trường 
hợp này, hình thái học thai nhi đa số đều bình 
thường theo tuổi thai vì không có lệch bội. Ngược 
lại, bộ nhiễm sắc thể trong thai trứng bán phần đa 
số đều là 69 nhiễm sắc thể. Khi có nghi ngờ, nên 
chọc ối hoặc làm sinh thiết gai nhau để chẩn đoán 
phân biệt. Ngoài hình ảnh đại thể bánh nhau sau 
sinh, việc chẩn đoán chắc chắn loạn sản trung mô 
bánh nhau được thực hiện bởi mô bệnh học [1], 
[2], [3], [7]. Hình ảnh mô bệnh học sẽ cho thấy có 
hiện tượng phù đoạn tận cùng vi lông nhau, phù 
thân lông nhau, giãn phình các mạch máu thân 
lông nhau nhưng không có hiện tượng tăng sinh tế 
bào nuôi [8]. 
Ở cả hai trường hợp của chúng tôi, tuổi mẹ lần 
lượt là 28 và 34 tuổi. Hầu hết các kết quả nghiên 
cứu trước đây cho thấy loạn sản trung mô bánh 
nhau có thể xuất hiện ở tất cả các độ tuổi khác 
nhau. Theo Paradinas (2001), trong 11 trường hợp 
ghi nhận, tuổi mẹ thấp nhất là 16 tuổi và lớn nhất 
38 tuổi, tuy nhiên tập trung vào nhóm nhỏ hơn 20 
tuổi và trên 30 tuổi [8]. Tương tự, kết quả nghiên 
cứu của Nayeri (2009) cho thấy độ tuổi trung bình 
là 28.2 ± 0.7 [7]. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu 
của Truc Pham (2006) cho thấy tất cả các trường 
hợp đều có tuổi mẹ lớn hơn 25 tuổi [1]. Hai trường 
hợp chúng tôi ghi nhận đều là những sản phụ đã 
từng mang thai đủ tháng trước đây, điều này phù 
hợp với kết quả nghiên cứu của Nayeri (2009) chỉ 
có 21% mang thai con so có loạn sản trung mô 
bánh nhau [7]. Cả hai trường hợp đều có thai tự 
nhiên, điều này tương tự kết quả nghiên cứu của 
Tanuma (2015) [2]. Các nghiên cứu khác không 
ghi nhận phương pháp mang thai.
Ở trường hợp thứ 1, tại thời điểm siêu âm lần 
đầu tiên vào lúc 17 tuần, sở dĩ chúng tôi nghĩ đến 
loạn sản trung mô bánh nhau vì các dấu hiệu trên 
siêu âm ngoài bánh nhau có 2/3 diện tích có dạng 
hình tổ ong với các hốc trống âm nhỏ, chúng tôi 
khảo sát kỹ về mặt hình thái học tương ứng với thai 
17 tuần chưa có dấu hiệu bất thường, các lần siêu 
âm tiếp theo cho kết quả tương tự, càng củng cố 
chẩn đoán của chúng tôi. Tương tự, đối với trường 
hợp thứ 2, đến với đơn vị của chúng tôi vào tuổi 
thai 24 tuần, với bánh nhau có dạng hình tổ ong 
chiếm hầu hết diện tích của bánh nhau nhưng kích 
thước bánh nhau có vẻ bình thường trên siêu âm, 
với tuổi thai này chúng tôi khảo sát về mặt hình thái 
thai nhi tốt hơn. Ở trường hợp thứ 1, tuổi thai còn 
nhỏ khi đến đơn vị chúng tôi, chưa cho phép khảo 
sát toàn diện hình thái học thai nhi, cùng với đó 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 172 - 177, 2017
177
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
chưa có các biến chứng xảy ra trên sản phụ và thai 
nhi vì vậy cần thiết phải làm nhiễm sắc đồ để loại 
trừ thai trứng bán phần, thường đi kèm với một thai 
đa dị tật hoặc thai ngừng phát triển với tam bội thể 
(69 nhiễm sắc thể). Ở trường hợp thứ 2, chúng tôi 
không làm nhiễm sắc đồ vì hình thái học thai nhi 
bình thường, kích thước bánh nhau không lớn và 
sản phụ không đồng ý chọc ối. Chúng tôi không 
nghĩ đến song thai có một thai bình thường và một 
thai trứng toàn phần vì sản phụ không có các triệu 
chứng điển hình của thai trứng toàn phần, bánh 
nhau không quá lớn tương quan với kích thước 
thai. Chúng tôi nghĩ rằng không cần thiết chẩn 
đoán phân biệt trường hợp bánh nhau dạng khảm 
vì hướng xử trí tương tự với loạn sản trung mô bánh 
nhau là theo dõi thai kỳ và có thể chẩn đoán phân 
biệt dựa vào mô bệnh học sau sinh.
Chúng tôi không ghi nhận các dấu hiệu bất 
thường về mặt hình thái học của cả hai thai trong 
các lần siêu âm theo dõi tiếp theo, chúng tôi loại trừ 
biến chứng thường gặp của loạn sản trung mô bánh 
nhau là hội chứng Beckwith – Wiedemann với các 
đặc điểm thai to, lưỡi to, thoát vị rốn, tật cằm nhỏ, 
các dấu hiệu ở mặt – não, bất thường tai. Tuy nhiên, 
ở trường hợp thứ 2, chúng tôi nghĩ rằng đây là một 
tình trạng thai chậm tăng trưởng trong tử cung độ 
I, với cân nặng dưới đường bách phân vị thứ 10th 
và có biến đổi trên doppler màu (chỉ số CPR < 1,1). 
Điều này phù hợp với các nghiên cứu của A. Nayeri 
(2009) với 33% [7], với Truc Pham là 6/11 trường 
hợp [1] có thai chậm tăng trưởng trong tử cung. Ở 
trường hợp thứ nhất ghi nhận trọng lượng thai nằm 
trong khoảng bách phân vị thứ 10th đến 90th, và 
tốc độ phát triển của thai hoàn toàn phù hợp theo 
biểu đồ tăng trưởng mặc dù dây rốn bám vào vùng 
mô nhau bất thường. Sở dĩ có sự khác biệt này là 
do sự gia tăng kích thước bánh nhau ở thai thứ nhất, 
đảm bảo cung cấp đầy đủ máu và chất dinh dưỡng 
cho thai nhi. Ở trường hợp thứ hai bánh nhau không 
lớn, vì vậy không đủ nuôi thai dẫn đến thai chậm 
tăng trưởng trong tử cung. 
Kết quả mô bệnh học cả hai trường hợp này 
đều chẩn đoán loạn sản trung mô bánh nhau với 
các đặc điểm các mạch máu giãn lớn, trục liên 
kết thoái hóa nước, tế bào liên kết giảm, quá sản 
tế bảo biểu mô nuôi mức độ vừa, không có hiện 
tượng tăng sinh tế bào nuôi.
Như vây, các triệu chứng trên siêu âm, hình ảnh 
đại thể và vi thể của bánh nhau đều phù hợp với 
chẩn đoán loạn sản trung mô bánh nhau.
4. Kết luận
Loạn sản trung mô bánh nhau là một bệnh lý 
hiếm gặp, các triệu chứng về mặt hình ảnh siêu âm 
gần giống với thai trứng bán phần, và cần phân 
biệt với song thai có một thai bình thường và một 
thai trứng toàn phần cùng tồn tại và tình trạng khảm 
của bánh nhau. Khi đặt ra chẩn đoán và chẩn đoán 
phân biệt, cần khảo sát hình thái học thai nhi kỹ để 
có hướng chẩn đoán phù hợp. Để loại trừ thai trứng 
bán phần, cần làm nhiễm sắc đồ thai nhi. Loạn sản 
trung mô bánh nhau có liên quan đến một số biến 
chứng trong thai kỳ, tuy nhiên đây là bệnh lý lành 
tính vì vậy cần theo dõi sát sự phát triển của thai và 
sự xuất hiện các biến chứng nếu có.
Tài liệu tham khảo
1. Pham T, Steele J, Stayboldt C, Chan L, Benirschke K. Placental 
mesenchymal dysplasia is associated with high rates of intrauterine 
growth restriction and fetal demise: a report of 11 new cases and a review 
of the literature. Am J Clin Pathol. 2006;126:67–78.
2. Akiko Tanuma et al, Prenatal imaging and pathology of placental mesenchymal 
dysplasia: a report of three cases, Case Rep. Perinat. Med. 2016; 5(1): 9–14.
3. V. Ulker et al, Placental mesenchymal dysplasia: A rare 
clinicopathologic entity confused with molar pregnancy, Journal of 
Obstetrics and Gynaecology, April 2013; 33: 246–249.
4. Maria Chiara Sudano et al, Placental mesenchymal dysplasia, a case 
of intrauterine sudden death in a normal-sized fetus, Journal of Prenatal 
Medicine 2013; 7 (1): 9-11.
5. Gregory W. Woo et al, Placental mesenchymal dysplasia, Am J Obstet 
Gynecol 2011.
6. Vaisbuch E, Romero R, Kusanovic JP, Erez O, Mazaki-Tovi S, Gotsch 
F. Three dimensional sonoraphy of placental mesenchymal dysplasia and 
its differential diagnosis. J Ultrasound Med. 2009;28:359–68.
7. A. Nayeri, B. West, Grossetta Nardini, A. Copel, K. Sfakianaki, 
Systematic review of sonographic findings of placental mesenchymal 
dysplasia and subsequent pregnancy outcome, Ultrasound Obstet 
Gynecol 2013; 41: 366–374.
8. F J Paradinas, N J Sebire, R A Fisher, Pseudo-partial moles: placental 
stem vessel hydrops and the association with Beckwith-Wiedemann 
syndrome and complete moles, Histopathology 2001,39, 447±454.

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_truong_hop_loan_san_trung_mo_banh_nhau.pdf