Báo cáo trường hợp bất sản cổ tử cung điều trị tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế

Chúng tôi báo cáo trường hợp bất sản hoàn toàn cổ tử cung và kèm bất sản một phần trên âm

đạo vào điều trị tại Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế. Bệnh nhân được phẫu thuật bảo

tồn theo phương pháp cắt bỏ phần cổ tử cung bất sản, cắt đoạn dưới tử cung hình nón đến nội

mạc và nối với thông vào âm đạo. Sau khi phẫu thuật, chúng tôi theo dõi sau một tháng bệnh

nhân đã hành kinh bình thường. Qua kết quả bước đầu điều trị, chúng tôi tin là nối tử cung

- âm đạo là phương pháp phù hợp cho bệnh nhân bị bất sản cổ tử cung và phần trên âm đạo.

pdf 8 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo trường hợp bất sản cổ tử cung điều trị tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Báo cáo trường hợp bất sản cổ tử cung điều trị tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế

Báo cáo trường hợp bất sản cổ tử cung điều trị tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế
258 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP BẤT SẢN CỔ 
TỬ CUNG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN 
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
Trương Quang Vinh*, Hoàng Thanh Tuấn**, Trần Thế Bình*
Tóm tắt
Chúng tôi báo cáo trường hợp bất sản hoàn toàn cổ tử cung và kèm bất sản một phần trên âm 
đạo vào điều trị tại Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế. Bệnh nhân được phẫu thuật bảo 
tồn theo phương pháp cắt bỏ phần cổ tử cung bất sản, cắt đoạn dưới tử cung hình nón đến nội 
mạc và nối với thông vào âm đạo. Sau khi phẫu thuật, chúng tôi theo dõi sau một tháng bệnh 
nhân đã hành kinh bình thường. Qua kết quả bước đầu điều trị, chúng tôi tin là nối tử cung 
- âm đạo là phương pháp phù hợp cho bệnh nhân bị bất sản cổ tử cung và phần trên âm đạo. 
Abstract
Case report: successful treatment of a patient with complete cervical atresia and 
partial vaginal aplasia 
We present an exceptional case of a patient with complete cervical atresia and partial 
vaginal aplasia. After cervicoisthmic resection with implantation of the uterine corpus in the 
neovagina, and conservative surgery for endometriosis, the patient had normal menstruations. 
We recommend conservative surgery in patients with congenital cervical atresia.
* Bộ môn Phụ sản Trường Đại học Y Dược Huế, ** Khoa Sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
Đặt vấn đề
Bất sản âm đạo, cổ tử cung là loại dị dạng 
phức tạp của thể Müllerian thường biểu 
hiện với một tử cung, nội mạc tử cung, vòi 
tử cung và các cơ quan sinh dục ngoài bình 
thường. Đây là dị dạng hiếm gặp và gây nên 
biến chứng nghiêm trọng. 
Theo ASRM, phân loại Ia về bất thường 
tử cung bao gồm cả trường hợp bất sản cổ tử 
cung kèm theo tử cung và nội mạc tử cung 
có chức năng bình thường; tử cung có thể 
bình thường hoặc có hiện diện sự hợp nhất 
hoặc tiêu hủy khuyết tật; cổ tử cung có thể 
có hoặc không hoặc thiểu sản [14]. 
Các trường hợp cổ tử cung bất sản thuộc 
nhóm Ib. Vì vậy tỷ lệ thật sự khó xác định 
chính xác. Bất sản một phần hoặc toàn bộ 
cổ tử cung được mô tả có thể kết hợp với 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 258-265, 2012
BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP
Trương Quang Vinh/Hoàng Thanh Tuấn/Trần Thế Bình l 259
có hoặc không có bất sản âm đạo kèm 
theo. Một bất thường hay gặp của thể 
Müllerian như bất sản thể Müllerian bẩm 
sinh trong hội chứng Mayer–Rokitansky–
Kuster–Hauser, có thể xảy ra với các mức 
độ khác nhau trong quá trình phát triển của 
đường sinh dục trên, có thể thay đổi từ 1 
hoặc cả 2 xoang tử cung đôi có chức năng 
cho đến tử cung sơ khai và đến cả thiếu vắng 
hoàn toàn tổ chức của thể Müllerian [4].
Bất sản âm đạo bẩm sinh có tần suất từ 
1/4000 đến 1/10500 phụ nữ [13] trong số 
này người ta thấy < 10% có sự phát triển 
bình thường của thân tử cung. Tuy nhiên, 
các trường hợp được báo cáo bất sản cổ tử 
cung bẩm sinh thường phối hợp với bất sản 
một phần hoặc nhỏ của phần trên âm đạo 
và các trường hợp bất sản hoàn toàn âm đạo 
thường có teo một phần hoặc một phần nhỏ 
phía dưới cổ tử cung. Bất sản toàn bộ âm 
đạo và cổ tử cung thường rất hiếm.
Theo Phạm Mạnh Hà, Vương Tiến Hòa 
năm 2007, trong 148 bệnh nhân dị tật bẩm 
sinh đường sinh dục nữ tại Bệnh viện Phụ 
Sản Trung ương từ 1999 – 2003 [1]:
 - Dị tật buồng trứng: 1,4%, 
 - Dị tật vòi tử cung: 1,4%, 
 - Dị tật tử cung: 39,9%, 
 - Dị tật cổ tử cung: 26,0%, 
 - Dị tật âm đạo: 57,5%, 
 - Dị tật âm hộ: 31,1%. 
Vô kinh nguyên phát có thể là triệu chứng 
duy nhất của bất sản cổ tử cung sau dậy thì, 
nhưng thường có đau vùng chậu ngày càng 
tăng theo chu kỳ. 
Khám thực thể thường thấy cơ quan sinh 
dục ngoài bình thường, không có âm đạo, 
khám trực tràng (và siêu âm qua trực tràng) 
thấy 1 tử cung lớn hoặc bình thường, có kèm 
hoặc không kèm theo khối u tiểu khung 
tương ứng với ứ máu tử cung, ứ máu vòi tử 
cung, hoặc lạc nội mạc tử cung. 
Có thể có các tai biến quan trọng sau mổ 
và khả năng sinh đẻ thấp mặc dù đã tạo 
được 1 âm đạo mới. Trước đây, người ta 
khuyên nên cắt tử cung và xem đó như là 
một phương pháp được lựa chọn ngay cả 
ở các bệnh nhân trẻ tuổi [18], [19]. Bất chấp 
khuyến cáo này, hiện nay phẫu thuật bảo 
tồn đang được khuyến cáo cho bệnh nhân bị 
bất sản cổ tử cung và âm đạo bị bất sản toàn 
phần hoặc một phần. Trong bài này chúng 
tôi trình bày một trường hợp đặc biệt: bệnh 
nhân bị bất sản bẩm sinh hoàn toàn cổ tử 
cung và phần trên âm đạo, sau khi mở thông 
âm đạo và nối thân tử cung vào âm đạo này, 
đặt thông tử cung - âm đạo 15 ngày, bệnh 
nhân hậu phẫu ổn định đã xuất viện.
Báo cáo trường hợp
Bệnh nhân: NGUYỄN THỊ THANH T. 24 
tuổi, địa chỉ ở Thủy Phương - Hương Thủy 
- Thừa Thiên Huế, nghề nghiệp công nhân. 
Vào viện ngày 21 tháng 5 năm 2012 với lý do 
đau bụng hạ vị, có bệnh sử vô kinh nguyên 
phát, hàng tháng có đau bụng theo chu kỳ, 
mỗi lần đau bụng 3 - 4 ngày, thời gian gần 
đây đau bụng tăng nhiều hơn. Tiền sử mổ 
ruột thừa cách 8 năm. 
Khám bệnh lúc vào: Thể trạng trung 
bình, mạch 82/phút, thân nhiệt 370C, Huyết 
áp 100/60mmHg, trọng lượng 43Kg. Khám 
tổng quát không có dấu hiệu bệnh lý. 
Khám phụ khoa: Các dấu hiệu sinh dục 
phụ bình thường, bụng có vết mổ vùng hố 
chậu phải dài 10cm. Âm hộ bình thường. 
Khám mỏ vịt quan sát thấy âm đạo bình 
thường, không thấy cổ tử cung. Khám âm 
đạo tử cung kích thước lớn hơn bình thường, 
giữa tử cung và âm đạo là 1 dải xơ, 2 phần 
phụ không phát hiện khối u.
Chẩn đoán vào viện: Dị dạng đường sinh 
dục
Các xét nghiệm đã có: Công thức máu 
Bạch cầu 9,8K/µl, N: 84%, L:14%, M:1%, 
E:1%, Hồng cầu 4,26M/µl, Hb119g/l, 
Hct:37,4%, tiểu cầu 200K/µl. Nhóm máu A, 
Rh+, HIV (-), HbsAg (-), chức năng đông máu 
bình thường. Các xét nghiệm khác: Glucose: 
260 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
4,77mmol/l, protein: 64g/l, Triglicerid: 1,09, 
Cholesterol: 3,28mmol/l, SGOT: 24 U/L, 
SGPT: 15U/L.
Siêu âm ngày 28/5/2012: Tử cung tư thế 
trung gian kích thước100mm. Phần đáy phì 
đại. Dap: 45mm, Dt: 55mm, bờ không đều, 
chủ yếu thành sau, cấu trúc hồi âm không 
đồng nhất, kèm theo các ổ nhỏ < 10mm. Nội 
mạc tử cung 12mm, lòng tử cung không 
thấy bất thường. Ống cổ tử cung có kích 
thước nhỏ dần đều xuống dưới, không thấy 
rõ hình ảnh 2 mép cổ tử cung, Dap:10m. 
Buồng trứng phải không tìm thấy, buồng 
trứng trái: vị trí cao ở hố chậu trái, kích 
thước và cấu trúc bình thường, có các nang 
noãn, có nang đang trưởng thành 17mm. 
Kết luận: 
- Bất sản cổ tử cung.
- Phì đại không đồng nhất đáy và thân tử 
cung, khả năng adenomyosis
- Không thấy hình ảnh buồng trứng phải
Kết quả chụp cắt lớp vi tính + siêu âm đầu 
dò âm đạo ngày 23/5/2012: Tử cung trung 
gian, lệch trái, Dap:45mm, kích thước 71 x 
42 mm đồng nhất. Cổ tử cung Dap:16mm, 
ống cổ tử cung ngắn. Âm đạo ngắn.
Kết luận: 
- Thiểu sản cổ tử cung, âm đạo
- Không thấy buồng trứng 2 bên.
- Các cơ quan khác chưa phát hiện bất 
thường
Bệnh nhân được hội chẩn mổ chương 
trình vào ngày 30/5/2012. Chẩn đoán trước 
mổ: Dị dạng sinh dục, tử cung đôi/Tiền sử 
mổ ruột thừa. Chẩn đoán sau mổ: Dị dạng 
sinh dục, bất sản cổ tử cung, tử cung đôi/
Tiền sử mổ ruột thừa
Phương pháp mổ: Nối tử cung âm đạo 
(utero - vaginal anastomosis)
- Rạch da đường ngang trên vệ vào ổ 
phúc mạc. Kiểm tra thấy: Tử cung bên phải 
lớn hơn bình thường, xơ chắc, có nhiều nốt 
lạc nội mạc tử cung ở đáy. Bất sản cổ tử 
cung; từ thân tử cung đến âm đạo là 1 dải 
xơ 3cm (hình 1A, 1B) bên trái tử cung này 
không có phần phụ.
Hình 1A: Bất sản cổ tử cung 1B Tử cung phụ nối với tử cung chính 
qua dải xơ
- Bên phải tử cung có vết sẹo, ruột non 
dính vào sừng phải, nghi phần phụ phải đã 
bị cắt.
- Tử cung bên trái nhỏ kích thước 1 x 
3cm, buồng trứng trái bình thường, không 
có phần phụ phải. Vòi tử cung trái nhỏ dài, 
không có loa, dính vào vách chậu.
- Có 1 vách xơ dày 1cm, rộng 4cm nối 
giữa 2 tử cung này đến túi cùng. 
- Tiến hành cắt phần cổ tử cung bất sản, 
cắt đoạn dưới tử cung hình nón đến khi 
thấy nội mạc tử cung (như khóet chóp cổ tử 
cung), đo buồng tử cung 3cm.
Trương Quang Vinh/Hoàng Thanh Tuấn/Trần Thế Bình l 261
Hình 2A: Cắt lọc dải xơ 2B: Bộc lộ lòng tử cung
 Mở âm đạo vùng giữa Bàng quang và trực tràng 2,5cm.
Hình 3A: Mở âm đạo 3B: Nối tử cung vào âm đạo
- Đặt 1 ống thông nhựa đường kính 8mm 
vào buồng tử cung thông ra âm đạo. Khâu 
nối tử cung - âm đạo bằng chỉ Vicry 1.0 mũi 
rời, phủ phúc mạc bàng quang – tử cung, 
lau ổ phúc mạc, đóng thành bụng và kháng 
sinh 5 ngày sau mổ.
- Lưu lại ống thông tử cung - âm đạo 15 
ngày. Diễn biến trong quá trình theo dõi, 
ngày 14/6 bệnh nhân có kinh lần đầu, đau 
bụng rất ít so với trước phẫu thuật. 
- Siêu âm ngày 19/6: Tử cung tư thế trung 
gian, kích thước 57 x 30mm, phì đại. Tăng 
âm ít đồng nhất khu trú vùng eo mặt trước 
(vùng vết mổ ?) ở tử cung bên phải. Khó xác 
định tử cung trái, nội mạc mỏng, lòng tử cung 
không thấy bất thường, buồng trứng trái bình 
thường. Không thấy tụ dịch vùng tiểu khung.
Bàn luận
Như đã trình bày, bất sản toàn bộ âm 
đạo và cổ tử cung nhưng buồng tử cung còn 
chức năng là trường hợp hiếm gặp và phức 
tạp. Đôi khi, có sự phối hợp với dị dạng tử 
cung, vòi tử cung và lạc nội mạc tử cung, tùy 
vào thời gian bị kinh ngược dòng và kinh ẩn. 
Trong trường hợp này chúng tôi không 
khẳng định vòi tử cung bên phải thông, có 
thể bất sản một phần và có thể có buồng 
trứng và vòi tử cung nhưng bệnh nhân này 
bị mổ ruột thừa cách đây 8 năm, có thể do 
kinh ngược dòng hoặc lạc nội mạc tử cung 
và đã bị cắt vào thời gian này. Chúng tôi 
đã lưu ý và quan sát kỹ nhưng không thấy 
phần phụ mà chỉ thấy sẹo và quai ruột non 
dính vào phía sừng phải của tử cung bên 
262 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
phải. Nếu còn buồng trứng và vòi tử cung 
bên phải bệnh nhân này có hy vọng có thể 
có thai tự nhiên được. 
Không thấy ứ máu trong buồng tử cung 
nhưng bệnh nhân có đau bụng theo chu kỳ, 
và hình ảnh siêu âm cho thấy có các hốc dịch 
nhỏ trong cơ tử cung có lẽ đây là các ổ lạc 
nội mạc tử cung trong cơ gây đau.
Do nguy cơ nhiễm trùng ngược dòng và 
khả năng sinh đẻ thấp mặc dù đã tạo được 
âm đạo mới, các tác giả khác khuyên nên cắt 
tử cung như là một phương thức chọn lọc, 
ngay cả ở bệnh nhân trẻ trong các trường hợp 
cổ tử cung bất sản, các đề xuất làm thông cổ 
tử cung có thể thất bại và bệnh nhân thường 
có các biến chứng nghiêm trọng. Việc hành 
kinh bình thường và có thai sau đó ít khi đạt 
được [18].
Tuy nhiên, bệnh nhân của chúng tôi đã 
nối tử cung - âm đạo, không bị nhiễm trùng 
ngược dòng. Phần phụ phải đã bị cắt bỏ 
nhưng ở tử cung sơ khai bên trái vẫn còn 
buồng trứng đang hoạt động (kích thước 
bình thường, có nhiều nang noãn), nên chức 
năng sinh sản vẫn còn hy vọng, do đó nếu 
nối thông tử cung - âm đạo tạo được đường 
thông từ buồng tử cung ra âm đạo sẽ cho hy 
vọng làm IVF cho bệnh nhân.
Việc tạo hình âm đạo, mở thông tử cung 
và nối vào âm đạo nên thực hiện càng sớm 
càng tốt (khi 12 - 14 tuổi) để tránh lạc nội 
mạc tử cung. Có thể tiến hành phương 
pháp này theo 2 giai đoạn [4], tiến hành 
nối tử cung - âm đạo sau khi âm đạo đã 
được biểu mô hóa và vững chắc. Trong tạo 
hình âm đạo, người ta tin rằng kỹ thuật Mc 
Indoe là tối ưu: dùng vật liệu tạo hình trơ 
(inert) và ghép da. Các kỹ thuật khác như 
Vecchietti: dùng đại tràng sigma, niêm mạc 
bàng quang, phúc mạc, dùng màng chống 
dính Interceed chen giữa da và vật tạo hình 
(prosthesis) hiện cũng được khuyên dùng. 
Nếu cần cắt tử cung do bệnh lý phối hợp, 
việc tạo âm đạo mới cần trì hoãn đến 18 - 20 
tuổi, lúc này kỹ thuật mổ sẽ thuận lợi hơn, 
bệnh nhân trưởng thành hơn và có thể giao 
hợp được sau mổ. Trong các trường hợp 
này, các tai biến có thể nặng và thậm chí tử 
vong. Geary và Weed (1973) nhận thấy các 
bệnh nhân bị bất sản cổ tử cung và cả bệnh 
nhân bị teo cổ tử cung cần phải phẫu thuật 
dứt khoát (cắt tử cung). Hơn nữa, tác giả gợi 
ý là việc tạo ra một đường ống nhân tạo sẽ 
tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn ngược dòng 
và vì không có chất nhầy cổ tử cung làm cho 
sự thụ thai trở nên rất khó khăn. Do đó, các 
nỗ lực phẫu thuật để bảo tồn chức năng sinh 
sản không phải là hợp lý cho hầu hết bệnh 
nhân, đặc biệt ở những trường hợp cùng tồn 
tại cả bất sản cổ tử cung và bất sản âm đạo 
[5]. Tuy nhiên trong trường hợp của chúng 
tôi, bất sản cổ tử cung và chỉ một phần âm 
đạo nên có thể điều trị bằng phẫu thuật nối 
tử cung - âm đạo. 
Sing và Devi (1983) thông báo 1 trường 
hợp tái tạo tử cung và âm đạo. Trường hợp 
này có xơ dính gây hẹp, vẫn còn đường dò 
tử cung - âm đạo và sau đó có thai. Tương tự, 
Welker và cộng sự năm 1988 đã báo cáo các 
trường hợp có thai sau nối tử cung - âm đạo 
[21] và Hampton và cộng sự năm 1990 đã 
báo cáo 2 trường hợp, sau tạo hình âm đạo 
và mở thông cổ tử cung, 1 trường hợp teo 
phần trên âm đạo và 1 trường hợp bất sản 
1 phần âm đạo và cổ tử cung [14]. Fujimoto 
và cộng sự năm 1997 kiểm tra lại 58 trường 
hợp bất sản cổ tử cung bẩm sinh được báo 
cáo trong y văn, bao gồm 7 trường hợp của 
họ, trong số bệnh nhân này có 48% bệnh 
nhân chỉ bất sản cổ tử cung với âm đạo bình 
thường, số còn lại bị cả teo 1 phần hoặc toàn 
bộ âm đạo. Số có kinh bình thường đạt 59% 
trong số được tạo đường thông tử cung - 
âm đạo (23/39), trong đó có 4 trường hợp có 
Trương Quang Vinh/Hoàng Thanh Tuấn/Trần Thế Bình l 263
thai và đã sinh được đủ tháng. Họ đã kết 
luận rằng phẫu thuật tạo đường thông ở 
một số bệnh nhân được chọn lọc bị bất sản 
cổ tử cung bẩm sinh có thể được thực hiện 
thành công để tạo cơ hội xử trí bảo tồn, tạo 
cho bệnh nhân có kinh bình thường, giải 
quyết đau vùng chậu có chu kỳ, và một số 
có thể có khả năng thụ thai. Tuy nhiên phải 
tiên lượng có thể mổ lại khi hẹp do xơ sau 
mổ xảy ra [11]. 
Deffarges và cộng sự năm 2001 đã nối tử 
cung - âm đạo hoặc tử cung - tiền đình cho 18 
bệnh nhân bị bất sản cổ tử cung, trong đó có 
7 bị phối hợp với bất sản đoạn trên âm đạo. 
Một trường hợp bị hẹp chổ nối thứ phát và 
2 trong số 7 trường hợp bị bất sản âm đạo đã 
có thai [9]. Tương tự, năm 2000 Chakravarty 
và cộng sự mổ cho 18 bệnh nhân bị bất sản 
âm đạo - cổ tử cung bằng cách dùng kỹ thuật 
mới tạo đường hầm (rạch dọc tử cung - cổ 
tử cung qua mổ bụng hở, dùng IUD như là 
ống nong (stent) cổ tử cung, nối với vòm âm 
đạo, tạo hình âm đạo bằng khuôn nhựa và 
màng ối) [7]. Có 2 trường hợp sau đó mang 
thai, chỉ có 1 trường hợp hẹp lại toàn bộ cổ 
tử cung - âm đạo. Gần đây hơn Creighton và 
cộng sự năm 2006 đã báo cáo 1 trường hợp 
và Fedele năm 2007 báo cáo 12 trường hợp 
nối tử cung - tiền đình có hỗ trợ nội soi cho 
bệnh nhân bị bất sản âm đạo và cổ tử cung. 
Cho đến nay tất cả bệnh nhân này chưa có 
ai mang thai [8]. 
Kết luận
Bất sản âm đạo cổ tử cung là loại dị dạng 
phức tạp của thể Müllerian thường biểu 
hiện với 1 tử cung và nội mạc tử cung có 
chức năng bình thường; các cơ quan sinh 
dục ngoài và vòi tử cung bình thường. Đây 
là dạng hiếm gặp và gây nên biến chứng 
nghiêm trọng tuy vậy tỷ lệ rất khó xác định. 
Các trường hợp cổ tử cung bất sản thuộc 
nhóm Ib, Có thể bất sản 1 phần hoặc toàn bộ 
cổ tử cung kèm có hoặc không có bất sản âm 
đạo. Bất thường hay gặp của thể Müllerian 
như bất sản thể Müllerian bẩm sinh trong 
hội chứng Mayer – Rokitansky – Kuster – 
Hauser. Sau khi chẩn đoán, điều trị phẫu 
thuật và theo dõi bệnh nhân sau mổ chúng 
tôi rút ra một số nhận xét:
Chẩn đoán: 
- Sau khi dậy thì, vô kinh nguyên phát có 
thể là triệu chứng duy nhất của bất sản cổ tử 
cung, nhưng thường có đau vùng chậu chu 
kỳ ngày càng tăng. 
- Khám thực thể thường thấy cơ quan 
sinh dục ngoài bình thường, có hoặc không 
có âm đạo, khám trực tràng thấy 1 tử cung 
dày hoặc bình thường, có kèm hoặc không 
kèm theo khối u tiểu khung tương ứng với 
ứ máu tử cung, ứ máu vòi tử cung, hoặc lạc 
nội mạc tử cung.
- Siêu âm và CT, MRI giúp chẩn đoán xác 
định
Xử trí: 
- Tạo hình âm đạo, mở thông tử cung và 
nối vào âm đạo tạo cơ hội xử trí bảo tồn, tạo 
cho bệnh nhân có kinh bình thường, giải 
quyết đau có chu kỳ ở vùng chậu, và 1 số có 
khả năng thụ thai.
- Các kỹ thuật McIndoe, Vecchietti, dùng 
đại tràng sigma, niêm mạc bàng quang, 
phúc mạc, dùng màng chống dính Interceed 
chen giữa da và vật tạo hình (prosthesis) 
hiện được khuyên dùng. 
- Có thể có các tai biến trầm trọng sau mổ, 
khả năng sinh đẻ thấp mặc dầu đã tạo được 
1 âm đạo mới, có tác giả khuyên cắt tử cung 
là một phương thức được chọn lựa áp dụng 
ngay cả ở các bệnh nhân trẻ tuổi. Mặc dù 
có khuyến cáo này, phẫu thuật bảo tồn hiện 
nay đang thường được đề nghị cho bệnh 
nhân bị bất sản cổ tử cung và âm đạo bị bất 
sản toàn phần hoặc một phần. 
264 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
- Qua các thông tin ở phần bàn luận trên và 
qua kết quả bước đầu, chúng tôi tin là nối tử 
cung - âm đạo là phương pháp phù hợp cho 
bệnh nhân bị bất sản cổ tử cung và phần trên 
âm đạo, nhưng với bệnh nhân bị bất sản âm 
đạo dường như phải tạo hình âm đạo trước. 
Vì thế chúng tôi nhận thấy nên làm phẫu 
thuật bảo tồn ở bệnh nhân bị bất sản bẩm 
sinh cổ tử cung, bao gồm cả thực hiện tạo 
hình âm đạo theo McIndoe.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Mạnh Hà, Vương Tiến Hòa, 
Nghiên cứu dị tật bẩm sinh đường sinh 
dục nữ tại Bệnh viện Phụ sản Trung 
ương trong 5 năm. Tạp chí Phụ Sản. Số 
đặc biệt (3-4/2007).
2. Acien P, Acien MI, Sanchez-Ferrer 
ML, Complex malformations of the 
female genital tract: New types and 
revision of classification. Hum Reprod 
2004;10:2377–2384.
3. American Fertility Society, The American 
Fertility Society classifications of adnesal 
adhesions, distal tubal occlusion, tubal 
occlusion secondary to tubal ligation, 
tubal pregnancies, Mu¨llerian anomalies 
and intrauterine adhesions. Fertil Steril 
1988;49: 944–955.
4. Bryan A, Nigro J, Counseller V, One 
hundred cases of congenital absence 
of the vagina. Surg Gynecol Obstet 
1949;88:79 –86.
5. Bugmann P, Amaudruz M, Hanquinet 
S, La Scala G, Birraux J, Le Coultre 
C. Uterocervicoplasty with a bladder 
mucosa layer for the treatment of 
complete cervical agenesis. Fertil Steril 
2002;77:831– 835.
6. Buttram VC, Reiter RC. Anomalı´as 
uterinas. Tratamiento quiru´rgico de la 
infertilidad femenina, Cap 6. Medici SA. 
Barcelona, 1987.
7. Chakravarty B, Konar H, Chowdhury 
NN. Pregnancies after reconstructive 
surgery for congenital cervicovaginal 
atresia. Am J Obstet Gynecol 
2000;183:421– 423.
8. Creighton SM, Davies MC, Cutner A. 
Laparoscopic management of cervical 
agenesis. Fertil Steril 2006;85:1510.e13–
1515.
9. Deffarges JV, Haddad B, Musset R, 
Paniel BJ. Utero-vaginal anastomosis 
in women with uterine cervix atresia: 
long-term follow-up and reproductive 
performance. A study of 18 cases. Hum 
Reprod 2001;16: 1722– 1725.
10. Fedele L, Bianchi S, Frontino G, 
Berlanda N, Montefusco S, Borruto 
F. Laparoscopically assisted 
uterovestibular anastomosis in patients 
with uterine cervix atresia and vaginal 
aplasia. Fertil Steril 2007 [Epub ahead of 
print 3 May 2007].
11. Fujimoto VJ, Miller JH, Klein NA, Soules 
MR. Congenital cervical atresia: report of 
seven cases and review of the literature. 
Am J Obstet Gynecol 1997;177:1419–
1425.
12. Geary WL, Weed JC. Congenital atresia 
of the uterine cervix. Obstet Gynecol 
1973;42:213–217.
13. Griffin JE, Edwards C, Madden JD, 
Harrod MJ, Wilson JD. Congenital 
absence of the vagina. The Mayer-
Rokitansky-Kuster-Hauser syndrome. 
Ann Intern Med 1976;85:224–236.
14. Grimbizis GF, Tsalikis T, Mikos T, 
Papadopoulos N, Tarlatzis BC, Bontis JN. 
Successful end-to-end cervico-cervical 
anatomosis in a patient with congenital 
Trương Quang Vinh/Hoàng Thanh Tuấn/Trần Thế Bình l 265
cervical fragmentation: Case Report. 
Hum Reprod 2004;19:1204– 1210.
15. Hampton HL, Meeks GR, Bates GW, 
Wiser WL. Pregnancy after successful 
vaginoplasty and cervical stenting for 
partial atresia of the cervix. Obstet 
Gynecol 1990;76:900–901.
16. Jones HJ, Wheeless C. Salvage of the 
reproductive potential of women 
with anomalous development of the 
Mu¨llerian ducts. Am J Obstet Gynecol 
1969;104:348– 364.
17. Nargund G, Parsons J. A successful in-
vitro fertilization and embryo transfer 
treatment in a woman with previous 
vaginoplasty for congenital absence of 
vagina. Hum Reprod 1996;11:1654.
18. Niver DH, Barrette G, Jewelewicz R. 
Congenital atresia of the uterine cervix 
and vagina: three cases. Fertil Steril 
1980;33:25– 28.
19. Rock JA, Schlaff WD, Zacur HA, Jones 
HW. The clinical management of 
congenital absence of the uterine cervix. 
In J Gynaecol Obstet 1984;22:231–235.
20. Sanchez-Ferrer ML, Acie´n MI, Sa´nchez 
del Campo F, Mayol-Belda MJ, Acien P. 
Experimental contributions to the study 
of the embryology of the vagina. Hum 
Reprod 2006;21:1623–1628.
21. Sing J, Devi YL. Pregnancy following 
surgical correction of nonfused 
Mu¨llerian bulbs and absent vagina. 
Obstet Gynecol 1983;61:267–269.
22. Sparac V, Stilinovic K, Ilijas M, Barcot Z, 
Kupesic S, Prka M, Bauman R, Kurjak 
A. Vaginal aplasia associated with 
anatomically and functionally normal 
uterus. Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol 
2004;115: 110– 112.
23. Welker B, Krebs D, Lang N. Pregnancy 
following repair of a congenital atresia 
of the uterine cervix and upper vagina. 
Arch Gynecol Obstet 1988;243:51–54.

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_truong_hop_bat_san_co_tu_cung_dieu_tri_tai_benh_vien.pdf