Báo cáo ca lâm sàng: điều trị túi giả phình động mạch vị tá tràng dọa vỡ bằng phương pháp can thiệp nội mạch

Các túi phình động mạch vị tá tràng rất hiếm gặp, với các biểu hiện lâm sàng đa dạng, các trường hợp biến chứng vỡ có tiên lượng kém và tỉ lệ tử vong cao lên tới 40%. Mặc dù phẫu thuật mổ mở vẫn là một lựa chọn quan trọng, nhưng trong những năm gần đây can thiệp nội mạch cho thấy nhiều ưu thế và sự an toàn trong điều trị. Chúng tôi Báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ, 71 tuổi, nhập viện vì xuất huyết tiêu hóa do túi giả phình động mạch vị tá tràng dọa vỡ với tiền sử viêm tụy cấp, đã phẫu thuật cắt u vùng thân tụy hiện tại tái phát và di căn, được điều trị can thiệp nội mạch bít túi giả phình bằng stent phủ. Thủ thuật được được thực hiện thành công và bệnh nhân không còn các triệu chứng. Sau 2 tháng túi giả phình giảm kích thước và hoàn toàn không còn dòng máu. Điều trị can thiệp nội mạch đối với các túi phình động mạch vị tá tràng có thể được cân nhắc là một phương pháp thay thế đầy hứa hẹn thay cho mổ mở kể cả trong trường hợp cấp cứu

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo ca lâm sàng: điều trị túi giả phình động mạch vị tá tràng dọa vỡ bằng phương pháp can thiệp nội mạch", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Báo cáo ca lâm sàng: điều trị túi giả phình động mạch vị tá tràng dọa vỡ bằng phương pháp can thiệp nội mạch

Báo cáo ca lâm sàng: điều trị túi giả phình động mạch vị tá tràng dọa vỡ bằng phương pháp can thiệp nội mạch
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 78 
BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: ĐIỀU TRỊ TÚI GIẢ PHÌNH ĐỘNG MẠCH 
VỊ TÁ TRÀNG DỌA VỠ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP NỘI MẠCH 
Đỗ Kim Quế*, Trần Quý Tường** 
TÓM TẮT 
Các túi phình động mạch vị tá tràng rất 
hiếm gặp, với các biểu hiện lâm sàng đa dạng, các 
trường hợp biến chứng vỡ có tiên lượng kém và tỉ 
lệ tử vong cao lên tới 40%. Mặc dù phẫu thuật mổ 
mở vẫn là một lựa chọn quan trọng, nhưng trong 
những năm gần đây can thiệp nội mạch cho thấy 
nhiều ưu thế và sự an toàn trong điều trị. Chúng 
tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ, 71 
tuổi, nhập viện vì xuất huyết tiêu hóa do túi giả 
phình động mạch vị tá tràng dọa vỡ với tiền sử 
viêm tụy cấp, đã phẫu thuật cắt u vùng thân tụy 
hiện tại tái phát và di căn, được điều trị can thiệp 
nội mạch bít túi giả phình bằng stent phủ. Thủ 
thuật được được thực hiện thành công và bệnh 
nhân không còn các triệu chứng. Sau 2 tháng túi 
giả phình giảm kích thước và hoàn toàn không 
còn dòng máu. Điều trị can thiệp nội mạch đối 
với các túi phình động mạch vị tá tràng có thể 
được cân nhắc là một phương pháp thay thế đầy 
hứa hẹn thay cho mổ mở kể cả trong trường hợp 
cấp cứu. 
Từ khoá: Động mạch vị tá tràng, stent phủ, 
túi phình mạch. 
I. MỞ ĐẦU 
Phình mạch máu tạng là một dạng bệnh lý 
khá hiếm gặp (0.01-0.2% dân số) nhưng có tỷ lệ 
tử vong khá cao lên tới 40%, trong đó túi phình 
thường nằm ở các động mạch thân tạng, động 
mạch gan, động mạch lách[1-2]. Phình động mạch 
vị tá tràng là một trong những dạng hiếm nhất, 
chỉ chiếm khoảng 1.5% trong các dạng phình 
mạch máu tạng[6]. Cơ chế sinh ra các túi phình 
chưa thực sự được hiểu rõ, nhưng đa số các 
trường hợp khởi phát sau viêm tụy cấp, chấn 
thương, sau phẫu thuật, tăng huyết áp,... [1-3] 
Các túi phình mạch tạng thường không có 
triệu chứng hoặc là nguyên nhân gây ra các triệu 
chứng đau bụng mơ hồ cho tới khi có biến chứng 
vỡ, bệnh nhân sẽ có các triệu chứng như đau 
bụng cấp, xuất huyết tiêu hóa, nặng hơn là ảnh 
hưởng về huyết động và thậm chí đe dọa tính 
mạng. Phẫu thuật cấp cứu được xem là phương 
phát điều trị kinh điển và quan trọng, tuy nhiên 
đây là phương pháp xâm lấn, có nguy cơ cao và 
hậu phẫu nặng nề. Với những tiến bộ trong kỹ 
thuật can thiệp trong vài năm gần đây, các túi 
phình mạch tạng có thể được điều trị bởi kĩ bằng 
can thiệp nội mạch, là kỹ thuật ít xâm lấn, sử 
dụng các dụng cụ thuyên tắc túi phình (Coils) 
hoặc đặt stent phủ (Covered stent) và y văn trên 
thế giới đều cho các kết quả khả quan [2-4-5]. 1 
Trong bài này, chúng tôi xin giới thiệu một 
ca hiếm gặp về túi giả phình động mạch vị tá 
tràng dọa vỡ được điều trị can thiệp nội mạch 
bằng kỹ thuật can thiệp nội mạch đặt stent phủ. 
II. CA LÂM SÀNG 
Bệnh nhân nữ, 71 tuổi, nhập viện vì nôn 
ra máu. Trước nhập viện 3 tháng, bệnh nhân 
thường thấy đau bụng âm ỉ vùng thượng vị 
nhưng không cần điều trị. Trước nhập viện 1 
ngày, bệnh nhân thấy đau bụng vùng thượng vị 
tăng, kèm cảm giác buồn nôn. Ngày nhập viện, 
bệnh nhân nôn ra máu đỏ tươi, không rõ lượng, 
kèm đau bụng thượng vị tăng nên vào nhập cấp 
cứu bệnh viện Thống Nhất. 
Tiền sử bệnh nhân có ung thư thân tụy đã 
phẫu thuật cắt bỏ #2 năm trước, với #3 đợt viêm 
tụy cấp trước và sau phẫu thuật, sau phẫu thuật 
bệnh nhân phát hiện có túi phình mạch vùng 
thượng vị nhưng không điều trị. Trong 1 năm 
* Khoa Ngoại Tim Mạch Lồng Ngực, Bệnh viện Thống Nhất. 
** Khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh, Bệnh viện Thống Nhất 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Đỗ Kim Quế 
Ngày nhận bài: 02/08/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 04/09/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
 PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: ĐIỀU TRỊ TÚI GIẢ PHÌNH ĐỘNG MẠCH VỊ TÁ TRÀNG DỌA VỠ... 
 79 
qua, bệnh nhân có 2 lần xuất huyết tiêu hóa cần 
nhập viện nhưng không đồng ý điều trị phẫu 
thuật cắt bỏ túi phình mạch. 
Khám lâm sàng thấy bệnh nhân có tổng 
trạng trung bình, dấu hiệu thiếu máu, da niêm 
nhạt, khám bụng thấy có khối vùng thượng vị 
kích thước lớn, đập theo mạch. 
Kết quả tổng phân tích tế bào ngoại vi: 
WBC 12.2 k/uL, RBC 2.25 M/uL, HGB 5.6 g/dL, 
Hct 18.3%, PLT 215 k/uL. 
Nội soi dạ dày thấy có ít máu cũ trong dạ 
dày, bơm rửa không thấy vị trí chảy máu. 
Kết quả chụp CT bụng có thuốc tương phản 
cho thấy: Túi giả phình mạch vùng rốn gan xuất 
phát từ nhánh của động mạch vị tá, bắt thuốc 
mạnh ngang động mạch, kích thước #71x72mm, 
cổ túi #4mm, cách gốc động mạch vị tá tràng 
#12mm, có dấu hiệu dọa vỡ với hình ảnh thâm 
nhiễm mỡ xung quanh và có ít máu tụ quanh túi 
phình. 
U tụy tái phát mỏm cắt vùng thân tụy xâm 
lấn phần gốc rễ mạc treo ruột non. Di căn nhiều 
nốt đáy phổi hai bên. 
Hình 1: Hình ảnh CT bụng có thuốc cản quang trước can thiệp. 
A: Hình MIP cho thấy túi giả phình mạch kích thước lớn, bắt thuốc mạnh thì động mạch, có cổ 
túi hẹp và xuất phát từ động mạch vị tá tràng. 
B: cho thấy túi giả phình nằm sát thành D2 tá tràng, kích thước #71x72mm, bên trong túi có 
huyết khối cũ và có ít máu tụ xung quanh. 
C: Hình VR 3D cho thấy tương quan túi phình cùng các động mạch tạng, túi phình bắt thuốc rất 
mạnh thì động mạch. 
Sau khi xem xét kỹ lượng về tổng trạng 
bệnh nhân và các bệnh lý nền, chúng tôi đã tiến 
hành can thiệp nội mạch cấp cứu với phương 
pháp bít túi giả phình mạch bằng stent phủ. 
Kỹ thuật: Phương pháp gây tê tại chỗ, chọc 
dò động mạch đùi phải, luồn sheath 6F, sử dụng 
dây dẫn ái nước 0.035/150mm (Terumo, Japan) 
và ống dẫn Yashiro (Terumo, Japan) để chọn 
lọc động mạch thân tạng. Chụp mạch DSA cho 
thấy túi giả phình ở động mạch vị tá tràng kích 
thước #70mm, cổ nhỏ, khoảng cách cổ túi tới vị 
trí gốc động mạch vị tá tràng đủ dài để đặt stent 
phủ. Sử dụng ống dẫn can thiệp 6F (Cordis, 
US) cài vào động mạch thân tạng, sau đó dùng 
dây dẫy 0.014/180mm (Terumo, Japan) cài vào 
động mạch vị tá tràng qua vị trí túi giả phình. 
Đưa stent phủ PK Papyrus kích thước 4x20mm 
(Biotronik, Germany) vào động mạch vị tá 
tràng với sự hỗ trợ từ ống dẫn can thiệp. Sử 
dụng bản đồ mạch (Roadmap) để xác định vị trí 
miệng túi giả phình và gốc động mạch vị tá, sau 
khi đưa vào đúng vị trị, bung stent với sự quan 
sát liên tục dưới DSA. Chụp mạch kiểm tra sau 
bung stent thấy lấp hoàn toàn cổ túi phình, 
không rò thuốc ra ngoài stent, không còn dòng 
máu đi vào túi giả phình. 
A B C 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 80 
Hình 2: Hình ảnh DSA. 
A: Hình trước can thiệp cho thấy ống dẫn can thiệp 6F, dây dẫn 0.014 trong động mạch vị tá và 
với túi giả phình mạch ở động mạch vị tá tràng (mũi tên). 
B: Hình ảnh cho thấy catheter can thiệp, dây dẫn và stent phủ chưa bung nằm ở ngang vị trí túi 
phình động mạch vị tá. 
C: Hình ảnh sau can thiệp, stent đã bung nằm đúng vị trí, túi phình bị bít hoàn toàn, không còn 
dòng máu vào túi phình, không gây ảnh hưởng các nhánh mạch máu khác. 
Thủ thuật được thực hiện thành công và bệnh nhân xuất viện sau 3 ngày. Bệnh nhân không 
còn triệu chứng đau bụng và xuất huyết tiêu hóa. Kiểm tra bằng CT sau 2 tháng thấy túi giả 
phình giảm kích thước xuống #30x50mm, dịch hóa hoàn toàn, không còn bắt thuốc cản quang, 
không thấy dấu hiệu thiếu máu, nhồi máu các tạng lân cận. Kết quả siêu âm Doppler cho thấy đã 
đặt stent lấp túi giả phình động mạch vị tá tràng, túi giả phình giới hạn rõ, không có dòng máu 
chảy vào. 
Hình 3: Hình CT bụng có thuốc tương phản 2 tháng sau can thiệp. A: Hình CT không thuốc cho 
thấy vị trí stent nằm trong động mạch vị tá. B: Hình túi giả phình giảm kích thước rõ, bên trong đậm 
độ dịch đồng nhất, không còn bắt thuốc cản quang hay dòng máu. 
A C B 
B
A 
A 
BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: ĐIỀU TRỊ TÚI GIẢ PHÌNH ĐỘNG MẠCH VỊ TÁ TRÀNG DỌA VỠ... 
 81 
III. BÀN LUẬN 
Túi phình động mạch vị tá tràng rất hiếm 
gặp, chiếm tỉ lệ chỉ xấp xỉ 1.5% của phình động 
mạch tạng[1,2,6]. Thường xuất hiện sau viêm tụy, 
chấn thương, sau phẫu thuật, bệnh lý viêm loét, 
xơ vữa động mạch và hẹp động mạch mạc treo 
tràng trên cũng có thể là nguyên nhân[1, 7]. Viêm 
tuỵ chiếm đến 80% trong các trường hợp phình 
mạch này và nguyên nhân của sự hình thành túi 
phình là do sự tổn thương thành mạch của các 
động mạch lân cận. Có những cơ chế bệnh sinh 
khác không phổ biến như các bệnh lý tự miễn và 
do khiếm khuyết trục động mạch thân tạng. 
Nhìn chung, túi phình thường không có 
triệu chứng và được phát hiện một cách tình cờ 
trên các khảo sát hình ảnh học hoặc khi có biến 
chứng. Tuy nhiên, các biến chứng của nó có thể 
rất đa dạng và nghiêm trọng. Theo tài liệu, 35% 
các túi phình động mạch vị tá tràng bất kể kích 
thước có biểu hiện với việc vỡ túi phình gây đau 
đụng, tụt huyết áp, sốc giảm thể tích và tỉ lệ tử 
vong lên đến 21% [1, 3]. Tùy thuộc tương quan giải 
phẫu, kích thước và sự ăn mòn mà túi phình có 
thể được biểu hiện như tràn máu ổ bụng, xuất 
huyết tiêu hóa hoặc hiếm gặp hơn là chảy máu 
đường mật nếu túi phình vỡ vào ống mật chủ và 
ống tuỵ chính [9]. 
Điều thú vị là trong trường hợp của chúng 
tôi là túi giả phình đã được phát hiện từ trước đó, 
nguyên nhân có thể sau phẫu thuật cắt u tụy và 
viêm tụy cấp, là nguyên nhân gây triệu chứng đau 
bụng âm ỉ cùng 3 lần xuất huyết tiêu hóa của 
bệnh nhân, điều đó cho thấy túi phình đã có dấu 
hiệu dọa vỡ ít nhất 3 lần. 
Đa số các khuyến cáo cho rằng nên điều trị 
phình động mạch tạng khi kích thước trên 2cm. 
Tuy nhiên với túi phình động mạch vị tá tràng 
nên được điều trị ngay khi phát hiện, vì có một số 
báo cáo cho thấy vỡ các túi phình động mạch vị 
tá kích thước nhỏ và không cho thấy mối tương 
quan rõ rệt giữa biến chứng vỡ và kích thước túi 
phình[5] . Một số tác giả tán thành với việc điều trị 
sớm các túi phình mạch tạng bằng cách tiếp cận 
phẫu thuật xâm lấn, cho dù chúng không có triệu 
chứng, bởi vì tỉ lệ tử vong cao trong trường hợp 
túi phình bị vỡ.. Một số khác lại ủng hộ các kĩ 
thuật can thiệp nội mạch, cho dù là coil tắc mạch 
hay stent phủ, tỉ lệ thành công là 98%, và đề nghị 
phẫu thuật mổ hở nên được cân nhắc điều trị cho 
những ca phức tạp hoặc không phù hợp để can 
thiệp nội mạch[4-5]. Tuy nhiên, bệnh nhân của 
chúng tôi có nhiều bệnh lý nền, có tiền sử phẫu 
thuật cắt u tụy hiện tại tái phát ở vị trí mỏm cắt, 
di căn xa, túi phình có kích thước rất lớn và có 
dấu hiệu dọa vỡ, là những nguy cơ cao cho phẫu 
thuật mổ mở và chúng tôi đã lựa chọn phương 
pháp điều trị can thiệp nội mạch. 
Phương pháp can thiệp cổ điển thường 
dùng để điều trị gây tắc túi phình là đặt coil nội 
mạch, bọt gelatin, hạt PVA hay onyx[10]. Sau can 
thiệp, tái thông mạch với tỉ lệ mắc từ 9-43% và 
nhồi máu tạng là biến chứng dài hạn nghiêm 
trọng nhất của kĩ thuật này[11]. Với việc sử dụng 
stent phủ, có thể ngăn hoàn toàn dòng máu chảy 
vào túi phình và đồng thời duy trì được dòng 
chảy trong động mạch. Kỹ thuật này đang chứng 
tỏ ưu thế và sự an toàn vì không gây tắc nghẽn 
các mạch máu tạng, đồng thời không gây tăng áp 
lực trong lòng túi phình vốn đã suy yếu bởi các 
dụng cụ thuyên tắc như coil và có thể dẫn đến vỡ 
túi phình. Ishibashi và cộng sự đã chứng minh 
stent phủ không chỉ được sử dụng trong túi phình 
mạch tạng không có triệu chứng, mà còn dùng 
trong các trường hợp túi phình bị vỡ, rò rỉ, hay 
bóc tách nội mạc. Rossi và cộng sự báo cáo 3 ca 
đặt stent túi phình ở động mạch lách và một ca túi 
giả phình được đặt stent ở động mạch gan chung 
[4]. Thủ thuật đã được thực hiện thành công ở tất 
cả các ca và 1 bệnh nhân tiến triển nhồi máu lách 
được cho là do vấn đề thao tác trong quá trình can 
thiệp. Tsai và cộng sự đã điều trị thành công cho 
1 bệnh nhân nhân 53 tuổi với 1 túi giả phình động 
mạch mạc treo tràng trên sau bóc tách với cổ rộng 
bằng stent phủ [12]. 
Hiện nay, điều trị túi phình động mạch vị tá 
tràng chưa có phác đồ thống nhất, việc điều trị 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 82 
vẫn đang là một lựa chọn cá nhân nhân hoá phụ 
thuộc vào tình trạng bệnh nhân, lựa chọn của 
phẫu thuật viên, kỹ thuật và trang thiết bị của 
bệnh viện. Tuy nhiên, điều trị can thiệp nội mạch 
nên được cân nhắc là một kĩ thuật thay thế đầy 
hứa hẹn cho kĩ thuật mổ mở, do tính ít xâm lấn 
đồng thời có tỉ lệ tỉ vong thấp hơn. 
IV. KẾT LUẬN 
Các túi phình động mạch vị tá tràng hiếm 
gặp, với các biểu hiện lâm sàng đa dạng. Kĩ thuật 
can thiệp nội mạch điều trị túi phình động mạch 
vị tá bằng stent phủ đã cho thấy hiệu quả và nên 
là một sự lựa chọn ưu tiên kể cả trong trường hợp 
cấp cứu và đặc biệt ở các bệnh nhân nguy cơ 
phẫu thuật cao. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Carr SC, Mahvi DM, Hoch JR, Archer 
CW, Turnipseed WD. Visceral artery aneurysm 
rupture. J Vasc Surg. 2001;33(4): 806–11. 
2. Chong WW, Tan SG, Htoo MM. 
Endovascular treatment of gastroduodenal artery 
aneurysm. Asian Cardiovasc Thorac Ann. 
2008;16(1):68–72. 
3. Moore E, Matthews MR, Minion DJ, 
Quick R, Schwarcz TH, Loh FK, et al. Surgical 
management of peripancreatic arterial aneu- 
rysms. J Vasc Surg. 2004;40(2):247–53. 
4. Rossi M, Rebonato A, Greco L, Citone 
M, David V. Endovas- cular exclusion of visceral 
artery aneurysms with stent-grafts: technique and 
long-term follow-up. Cardiovasc Intervent 
Radiol. 2008;31(1):36–42. 
5. Tulsyan N, Kashyap VS, Greenberg RK, 
Sarac TP, Clair DG, Pierce G, et al. The 
endovascular management of visceral artery 
aneurysms and pseudoaneurysms. J Vasc Surg. 
2007;45(2): 276–83. (discussion 83). 
6. Battula N, Malireddy K, Madanur M, 
Srinivasan P, Karani J, Rela M. True giant 
aneurysm of gastroduodenal artery. Int J Surg. 
2008;6(6):459–61. 
7. Gouny P, Fukui S, Aymard A, Decaix B, 
Mory H, Merland JJ, et al. Aneurysm of the 
gastroduodenal artery associated with stenosis of 
the superior mesenteric artery. Ann Vasc Surg. 
1994; 8(3):281–4. 
8. Iyori K, Horigome M, Yumoto S, 
Yamadera Y, Saigusa Y, Iida F, et al. Aneurysm 
of the gastroduodenal artery associated with 
absence of the celiac axis: report of a case. Surg 
Today. 2004; 34(4):360–2. 
9. Sun MS, Wang HP, Lin JT. 
Gastroduodenal artery aneurysm mimicking a 
bleeding submucosal tumor. Gastrointest Endosc. 
2001;54(5):621. 
10. Coll DP, Ierardi R, Kerstein MD, Yost S, 
Wilson A, Matsumoto T. Aneurysms of the 
pancreaticoduodenal arteries: a change in 
management. Ann Vasc Surg. 1998;12(3):286–91. 
11. Sofocleous CT, Hinrichs CR, Hubbi B, 
Doddakashi S, Bahram- ipour P, Schubert J. 
Embolization of isolated lumbar artery injuries in 
trauma patients. Cardiovasc Intervent Radiol. 
2005; 28(6):730–5. 
12. Tsai HY, Yang TL, Wann SR, Yen MY, 
Chang HT. Successful angiographic stent-graft 
treatment for spontaneously dissecting broad-base 
pseudoaneurysm of the superior mesenteric 
artery. J Chin Med Assoc. 2005;68(8):397–400. 

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_ca_lam_sang_dieu_tri_tui_gia_phinh_dong_mach_vi_ta_t.pdf