Báo cáo batrường hợp vết thương tim tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh

Vết thương tim là một bệnh cảnh ít gặp, bệnh

cảnh lâm sàng thường diễn biến rất nhanh và nặng

nề, nguy cơ tử vong cao. Vết thương tim nếu được

chẩn đoán và phẫu thuật kịp thời thì tỉ lệ cứu sống

bệnh nhân tương đối cao. Chúng tôi xin báo cáo 3

trường hợp vết thương tim được xử trí thành công

tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh

pdf 4 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo batrường hợp vết thương tim tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Báo cáo batrường hợp vết thương tim tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh

Báo cáo batrường hợp vết thương tim tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh
BÁO CÁO BA TRƯỜNG HỢP VẾT THƯƠNG TIM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC NINH 
 67 
BÁO CÁO BATRƯỜNG HỢP VẾT THƯƠNG TIM TẠI BỆNH VIỆN ĐA 
KHOA TỈNH BẮC NINH 
Nguyễn Xuân Kiên* , Đặng Quang Huy** 
TÓM TẮT 
Vết thương tim là một bệnh cảnh ít gặp, bệnh 
cảnh lâm sàng thường diễn biến rất nhanh và nặng 
nề, nguy cơ tử vong cao. Vết thương tim nếu được 
chẩn đoán và phẫu thuật kịp thời thì tỉ lệ cứu sống 
bệnh nhân tương đối cao. Chúng tôi xin báo cáo 3 
trường hợp vết thương tim được xử trí thành công 
tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh. 
Từ khóa: vết thương tim, các đường mở ngực 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Vết thương tim là những tổn thương tại tim 
gây ra do những vật sắc nhọn, những tổn thương 
này thông với môi trường bên ngoài. Được coi là 
một tối cấp cứu trong ngoại khoa, vết thương tim 
là ưu tiên số 1 trong chẩn đoán, vận chuyển và xử 
lý.Ở Việt Nam, nguyên nhân gây vết thương tim 
hay gặp nhất là do bạch khí. Đối với vết thương 
tim do bạch khí, nếu bệnh nhân còn sống khi đến 
viện thì chẩn đoán không quá khó và phẫu thuật 
cấp cứu khâu vết thương tim mang lại kết quả tốt 
cho trên 90% số bệnh nhân [1] [2] [3]. 
Đối với các vết thương do bạch khí, tâm 
thất phải là vị trí buồng tim hay bị thương tổn 
nhất (> 50% ), rồi đến tâm thất trái, tâm nhĩ phải. 
Rất hiếm gặp vết thương ở tâm nhĩ trái [1] 
[4].Thương tổn phổi hợp hay gặp là tổn thương 
khoang màng phổi, ổ bụng, cơ hoành  làm thay 
đổi đáng kể bệnh cảnh lâm sàng của vết thương 
tim. Chúng tôi báo cáo 3 trường hợp vết thương 
tim được phẫu thuật thành công tại bệnh viện đa 
khoa tỉnh Bắc Ninh. 
II. CA LÂM SÀNG 
2.1. Case 1: 
Bệnh nhân nam 42 tuổi, vào viện vì đau 
ngực, khó thở sau khi bị đâm.Bệnh nhân có tiền 
sử nghiện ma túy nhiều năm. Trước vào viện 
khoảng 1 tiếng bệnh nhân bị người khác dùng dao 
nhọn đâm vào ngực trái. Bệnh nhân vào viện 
trong tình trạng lơ mơ, đau vùng ngực trái dữ dội, 
khó thở, da niêm mạc nhợt, mạch 100 lần/phút, 
huyết áp 100/60 mmHg, 01 vết thương vùng mũi 
ức dài khoảng 2 cm, bờ sắc gọn, rỉ rả máu.Tim 
nhịp nhanh, đều, không thấy tiếng bệnh lý. Phổi rì 
rào phế nang bên phải giảm nhiều. SpO2: 90%. 
Xquang tại giường: mờ toàn bộ trường phổi 
phải.Siêu âm tim qua thành ngực tại giường thấy 
màng ngoài tim có dịch chỗ dày nhất 17 mm. 
Khoang màng phổi phải có dịch dày 34mm.Kết 
quả công thức máu: RBC: 3,31 T/L, HGB: 9,8 
g/L, HCT: 29,6%.* 
Bệnh nhân được mổ cấp cứu xử lý vết 
thương tim. Mở ngực khoang liên sườn 5 trước 
bên trái cắt qua xương ức sang bên phải. Mở 
màng tim thấy 01 vết thương vùng thất phải 
kích thước 1x1 cm, mép gọn, máu phun thành 
dòng qua vết thương. Khâu vết thương bằng 02 
sợi prolen 4.0 có miếng đệm màng tim.Bệnh 
nhân thở máy 5 ngày, ra viện sau 2 tuần. 
Không phát hiện bất thường trên siêu âm tim 
qua thành ngực tại thời điểm ra viện và khám 
lại sau 1 tháng. 
* Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh 
** Bệnh viện Tim Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: BS. Nguyễn Xuân Kiên 
Ngày nhận bài: 01/11/2019 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/12/2019 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 27 - THÁNG 12/2019 
 68 
Hình 1: Vết thương vùng nguy hiểm của tim 
2.2. Case 2 
Bệnh nhân nam 59 tuổi, vào viện vì đau 
ngực, khó thở sau khi bị đâm.Bệnh nhân tiền sử 
khỏe mạnh. Trước vào viện khoảng 1 tiếng bệnh 
nhân bị người khác dùng dao nhọn đâm vào ngực 
trái. Bệnh nhân vào viện trong tình trạng đau 
vùng ngực dữ dội, khó thở nhẹ, da niêm mạc 
nhợt, mạch 95 lần/phút, huyết áp 70/40 mmHg, 
01 vết thương ngực trái tại khoang liên sườn 5 
cách ức trái khoảng 2 cm, bờ sắc gọn. Tràn khí 
dưới da thành ngực trái.Tim nhịp nhanh, đều, 
không thấy tiếng bệnh lý. Phổi rì rào phế nang 
bên trái giảm nhiều. SpO2: 92%. CT lồng ngực 
không tiêm thuốc cản quang cho thấy tràn dịch 
màng tim 7 mm và tràn dịch màng phổi trái 27 
mm. Công thức máu: RBC: 4,0 T/L, HGB: 12,4 
g/L, HCT: 37,4%. 
Bệnh nhân đượcchỉ định mổ cấp cứu xử lý 
vết thương tim. Mở ngực khoang liên sườn 5 
trước bên trái. Mở màng tim thấy 01 vết thương 
vùng phễu của thất phải kích thước 1x1 cm, mép 
gọn, đã cầm máu do cục máu đông. Khâu vết 
thương bằng 02 sợi prolen 4.0 có miếng đệm 
màng tim.Sau mổ bệnh nhân được rút máy thở 
sau 9 ngày, ra viện muộn do nhiễm trùng vết mổ 
thành ngực. Không có bất thường trên siêu âm 
tim qua thành ngực tại thời điểm ra viện và khám 
lại sau 1 tháng. 
2.3. Case 3 
Bệnh nhân nam 31 tuổi, vào viện vì đau 
ngực dữ dội, khó thở do bị đâm kéo vào ngực trái 
cách 1 giờ. Bệnh nhân vào viện trong tình trạng 
lơ mơ, đau vùng ngực dữ dội, khó thở, da niêm 
mạc nhợt, mạch nhanh nhỏ, huyết áp không đo 
được, 01 vết thương ngực trái kích thước khoảng 
1 x 0,5 cm tại khoang liên sườn 4 cách ức trái 
khoảng 2 cm, bờ sắc gọn. Tim nhịp nhanh, không 
thấy tiêng thổi. Phổi rì rào phế nang bên trái giảm 
nhiều. SpO2: 88 - 89%. Siêu âm tim qua thành 
ngực tại giường thấy khoang màng tim có dịch tại 
mỏm dày 21mm, thành bên dịch dày 10mm. 
Xquang ngực: không thấy tràn dịch, tràn khí 
màng phổi hai bên. Công thức máu: RBC: 4,3 
T/L, HGB: 12,0 g/L, HCT: 35,2%. 
Bệnh nhân được chỉ định mổ cấp cứu xử lý vết 
thương tim. Mở ngực khoang liên sườn 5 trước 
bên trái thấy vết thương xuyên qua khoang liên 
sườn 5 vào khoang màng tim, mở màng tim thấy 
BÁO CÁO BA TRƯỜNG HỢP VẾT THƯƠNG TIM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC NINH 
 69 
01 lỗ thủng tâm thất phải kích thước khoảng 1 cm 
x 0,5 cm bằng 01 mũi chỉ Prolen 3.0 có miếng 
đệm màng tim. Bệnh nhân thở máy 1 ngày, ra 
viện sau 1 tuần. Không có bất thường được ghi 
nhận trên siêu âm tim qua thành ngực lúc ra viện 
và sau khám lại 1 tháng. 
Hình 2: Vết thương thất phải sau khi đã khâu cầm máu 
III. BÀN LUẬN 
Vết thương tim được coi là một tối cấp cứu 
trong ngoại khoa, được ưu tiên số 1 trong chẩn 
đoán, vận chuyển và xử trí.Chẩn đoán vết thương 
tim không quá khó nhưng cần phải chẩn đoán thật 
sớm để đưa ra những phương án hồi sức và chuẩn bị 
phẫu thuật cho bệnh nhận. Một số nghiên cứu cho 
thấy, thời gian từ khi bị chấn thương đến khi phẫu 
thuật càng kéo dài thì tỉ lệ tử vong càng cao [5] [6]. 
Về chẩn đoán, vết thương thành ngực, đặc 
biệt là những vết thương ở vùng nguy hiểm của 
tim.Hội chứng sốc mất máu hoặc hội chứng chèn 
ép tim cấp.Cận lâm sàng: chủ yếu dựa vào 
Xquang và siêu âm tim. Xquang: bóng tim to, 
trung thất rộng, có khí trong khoang màng tim, có 
dị vật trong khoang màng tim, tràn máu tràn khí 
trong khoang màng phổi.Siêu âm tim: dịch màng 
tim, dịch màng phổi. ngoài ra còn có thể đánh giá 
các tổn thương tại tim.Cả ba bệnh nhân của chúng 
tôi đều có những triệu chứng lâm sàng rất điển 
hình của vết thương tim. Vết thương tại tam giác 
tim kèm theo các triệu chứng đau ngực dữ dội, 
khó thở, rối loạn huyết động.Ba bệnh nhân được 
của chúng tôi được sử dụng các cận lâm sàng 
chụp cắt lớp vi tính, siêu âm cấp cứu tại giường 
và chụp Xquang tại giường để chẩn đoán và điều 
trị. Cả 3 phương pháp này đều có thể góp phần giúp 
chẩn đoán sớm vết thương tim. Nhưng hạn chế của 
cả 3 phương pháp cận lâm sàng này là chưa đánh giá 
được hết tổn thương tại tim như van tim, vách liên 
thất từ đó đưa ra phương pháp phẫu thuật hợp lý 
với từng loại tổn thương. Vì vậy, siêu âm tim là một 
cận lâm sàng rất quan trọng trong việc chẩn đoán và 
điều trị vết thương tim. 
Việc lựa chọn đường mổ cũng đóng vai trò 
rất quan trọng đối với cơ sở y tế đa khoa. Lựa 
chọn đúng đường mổ sẽ giúp các bác sĩ tiếp cận 
được với vị trí vết thương chính xác để có thể 
cầm máu và xử trí vết thương.Theo Nguyễn Hữu 
Ước thì đường mở ngực phụ thuộc vào vị trí vết 
thương và toàn trạng của bệnh nhân.Đường mở 
ngực trước bên trái: Khi lỗ vào của vết thương 
nằm ở ngực trái, cách bờ trái xương ức > 2 
cm.Đường mở dọc giữa xương ức khi lỗ vào của 
vết thương nằm ở giữa bờ phải của xương ức tới 
cách bờ trái xương ức 2cm.Đường mở ngực trước 
bên phải: khi lỗ vào của vết thương nằm ở bên 
phải cách xa bờ phải xương ức.Trường hợp 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 27 - THÁNG 12/2019 
 70 
thương tổn nặng, nguy cơ phải sử dụng tuần hoàn 
ngoài cơ thể thì tốt nhất nên chọn đường mở dọc 
giữa xương ức, hoặc đường mở khoang liên sườn 
5 cắt qua xương ức sang bên đối diện [7]. 
Do cơ sở của chúng tôi chưa có phương tiện 
cưa xương ức nên đối với bệnh nhân thứ 1, vết 
thương nằm ở ngay mũi ức, chúng tôi đã chọn 
đường mở hai bên ngực tại khoang liên sườn 5 
cắt qua xương ức. Đối với bệnh nhân thứ 2 và thứ 
3, vết thương cách bờ trái xương ức 2cm, chúng 
tôi đã lựa chọn đường mổ qua khoang liên sườn 5 
phía trước bên trái. 
Một vấn đề nữa cần quan tâm tới là việc 
xử trí thương tổn tại tim. Những bệnh nhân bị 
vết thương tâm thất phải hầu hết có thể cứu 
được trong khi những bệnh nhân bị chấn 
thương nhiều buồng có tỷ lệ tử vong rất cao [8]. 
Đối với ba bệnh nhân chúng tôi gặp phải, vết 
thương nằm ở vùng thất phải, không gây tổn 
thương mạch vành và tổn thương van tim nên 
chúng tôi đã xử trí bằng khâu vết thương bằng 
mũi chữ U với chỉ prolen 4.0 có miếng đệm 
màng tim. Nhưng đối với một cơ sở y tế không 
có chuyên khoa phẫu thuật tim mạch, thì việc 
xử lý vết thương tại tim phải hết sức lưu ý nếu 
vết thương có tổn thương mạch vành, van tim, 
thủng vách liên thất, tổn thương các cuống 
mạch lớn 
IV. KẾT LUẬN 
Vết thương tim là một thương tổn rất 
nặng, đe dọa tính mạng bệnh nhân. Việc chẩn 
đoán sớm và đưa ra phương án phẫu thuật hợp 
lý sẽ giúp chúng ta có thể xử trí kịp thời để cứu 
sống bệnh nhân. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. N. H. Ước, bài giảng vết thương tim và 
chấn thương tim. 
2. P. T. Nam, xử trí cấp cứu vết thương 
tim, 2015. 
3. S. Topaloglu, Penetrating trauma to the 
mitral valve and ventricular septum. Tex Heart 
Inst J 2006, 33:392–395. 
4. D. Clarke, Emergency operation for 
penetrating thoracic trauma in a metropolitan 
surgical service in South Africa. J Thorac 
Cardiovasc Surg 2011, 142:563–568. 
5. A. Tang, Postdischarge complications 
after penetrating cardiac injury: a survivable 
injury with a high postdischarge complication 
rate. Arch Surg 2011, 146:1061–1066. 
6. J. Baker, Use of cardiopulmonary bypass 
to salvage patients with multiple-chamber heart 
wounds. Arch Surg 1998, 133:855–860. 
7. N. H. Ước, Các đường mở ngực trong 
cấp cứu”, Phẫu thuật cấp cứu tim mạch và lồng 
ngực”, ngoại khoa 43 – 52. 

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_batruong_hop_vet_thuong_tim_tai_benh_vien_da_khoa_ti.pdf