Báo cáo 1 trường hợp phẫu thuật u dumbbell tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng

U dumbbell là trường hợp hiếm gặp,10% u

trung thất sau phát triển thành u dumbbell. Phẫu

thuật cắt u phức tạp, cần phối hợp đa nhóm: phẫu

thuật thần kinh và phẫu thuật lồng ngực. Dấu hiệu

lâm sàng nghèo nàn, chẩn đoán chủ yếu dựa vào

chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ ngực.

Trường hợp lâm sàng: Bệnh nhân nam 43

tuổi, phát hiện u dumbbell bằng chụp cắt lớp vi

tính và cộng hưởng từ ngực. Chúng tôi đã cắt bỏ

khối u lồng ngực bằng nội soi kết hợp với

mởcung sau cột sống

pdf 4 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo 1 trường hợp phẫu thuật u dumbbell tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Báo cáo 1 trường hợp phẫu thuật u dumbbell tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng

Báo cáo 1 trường hợp phẫu thuật u dumbbell tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 22
BÁO CÁO 1 TRƯỜNG HỢP PHẪU THUẬT U DUMBBELL TẠI 
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP HẢI PHÒNG 
Nguyễn Thế May*, Đỗ Đức Thắng*,Nguyễn Văn Đại* Nguyễn Công Huy*, Phạm Quốc Hoa*, 
Hoàng Anh Công* Phạm Thanh Tuân*, Đỗ Mạnh Thắng*, Lê Minh Sơn*, Đoàn Quốc Hưng** 
TÓM TẮT 
U dumbbell là trường hợp hiếm gặp,10% u 
trung thất sau phát triển thành u dumbbell. Phẫu 
thuật cắt u phức tạp, cần phối hợp đa nhóm: phẫu 
thuật thần kinh và phẫu thuật lồng ngực. Dấu hiệu 
lâm sàng nghèo nàn, chẩn đoán chủ yếu dựa vào 
chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ ngực. 
Trường hợp lâm sàng: Bệnh nhân nam 43 
tuổi, phát hiện u dumbbell bằng chụp cắt lớp vi 
tính và cộng hưởng từ ngực. Chúng tôi đã cắt bỏ 
khối u lồng ngực bằng nội soi kết hợp với 
mởcung sau cột sống. 
SUMMARY 
SURGERY FOR POSTERIOR 
MEDIASTINAL DUMBBELL TUMORS AT 
VIET TIEP HOSPITAL: A CASE REPORT 
Overview: Mediastinal dumbbell tumor is a 
rare case, 10% ofposterior mediastinal tumors 
will develop into mediastinal dumbbell 
tumors.Totallyt tumorectomy is difficult, need to 
combined multiple teams: neurosurgery and 
thoracic surgery.Clinical signs arepoor, diagnosis 
is mainly based on computerized tomography and 
chest MR Imaging scan. 
Clinical case: 43-years-old male patient, 
detected dumbbell tumors by computerized 
tomography and chest MR Imaging scan. We 
have removed the thoracic tumor by endoscopy in 
combination with paravertebralincision. 
Key words: posterior mediastinal tumor, 
endoscope, dumbbell tumor,Neurogenic tumor, 
paravertebral 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
U trung thất sau có thể là u nguyên phát 
hoặc thứ phát, lành tính hoặc ác tính, xuất hiện 
ở mọi lứa tuổi. Khoảng 10% u trung thất phát 
triển vào cột sống gọi là:"u hình quả tạ - u 
dumbbell". Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, 
hay gặp nhất là dấu hiệu chèn ép tủy. Chẩn 
đoán xác định bệnh dựa vào chụp cắt lớp vi 
tính (CLVT) và cộng hưởng từ (MRI) ngực, 
phương pháp điều trị chủ yếu là phẫu thuật cắt 
u. Chúng tôi ở đây báo cáo một trường hợp liên 
quan đến bệnh nhân có khối u dumbbell và mô 
tả một kỹ thuật phẫu thuật để loại bỏ các khối u 
như vậy.* 
II. GIỚI THIỆU BỆNH NHÂN 
Chúng tôi tiến hành đánh giá hồi cứu 1 
trường hợp bệnh nhân nam 43 tuổi, được phát 
hiện u tình cờ. Trên phim CLVT và MRI ngực 
trước mổ cho thấy hình ảnh của u dumbbell 
ngang mức D3-D4, kích thước 8x8 cm, có tỷ 
trọng hỗn hợp trên CLVT, ngoài ra còn thấy 
các dấu hiệu "lỗ liên đốt giãn rộng”, ”hiện 
tượng bào mòn xương”, ”giãn rộng khoảng liên 
đốt”.Bệnh nhân sau mổ được rút dẫn lưu sau 3 
ngày và trở về với cuộc sống sinh hoạt bình 
thường. 
* Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp 
** Bệnh viện hữu nghị Việt Đức 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS Đoàn Quốc Hưng 
Ngày nhận bài: 01/02/2019 - Ngày Cho Phép Đăng: 23/03/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
BÁO CÁO 1 TRƯỜNG HỢP PHẪU THUẬT U DUMBBELL TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP HẢI PHÒNG 
 23
Hình 2.1 Hình ảnh U 
dumbbell trên CLVT 
Hình 2.2 Hình ảnh u dumbbell trên MRI 
III. PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT 
3.1. Phương pháp phẫu thuật 
Bệnh nhân được gây mê toàn thân với ống 
nội khí quản 2 nòng. 
Chúng tôi thực hiện phẫu thuật 2 giai đoạn 
trong 1 thì. Với u trong cột sống được mở cung 
sau và u trong lồng ngực được mổ nội soi do có 
ưu điểm an toàn và hiệu quả cao. 
3.1.1. Giai đoạn đầu: Loại bỏ khối u trong 
cột sống. 
Sau khi gây mê, bệnh nhân được nằm sấp. 
Tiếp cận khối u bằng đường mở cung sau cột 
sống, cắt bỏ nửa đốt sống. Khối u được bộc lộ, u 
nằm trong ống sống và đè đẩy ống tủy; lấy toàn 
bộ khối u. Tuy lượng máu mất khá nhiều với 
500ml máu nhưng đã được bù đủ khối lượng tuần 
hoàn. Sau mổ được đặt 1 dẫn lưu ngay tại vết mổ 
cột sống. 
Hình 2.3. Hình ảnh lấy u trong cột sống 
3.1.2. Giai đoạn thứ 2: Loại bỏ khối u 
trong lồng ngực. 
Sau khi lấy khối u trong cột sống, bệnh 
nhân được chuyển tư thế nằm nghiêng 900và 
được làm xẹp 1 bên phổi. Với tư thế này, phần 
phổi xẹp sẽ ngả về phía trước và để lộ ra khối u 
vùng trung thất sau. Thông thường việc cắt u 
trung thất được sử dụng với 3 trocar bao gồm 1 
trocar cho camera nội soi tại khoang liên sườn 
VI,VII đường nách trước, 1 trocar làm việc và 1 
trocar cho dụng cụ hút. Các trocar làm việc được 
đặt đối xứng với trocar nội soi với 1 khoảng cách 
hợp lý. Với việc khối u có hình bầu dục, bề mặt 
nhẵn, bên trong là tổ chức hỗn hợp; do đó, chúng 
tôi tiến hành bóc màng phổi thành xung quanh 
khối u, kẹp clip bó mạch thần kinh nuôi u. Khối u 
được cắt bỏ hoàn toàn được đưa vào túi nội soi 
trước khi đưa ra khỏi lồng ngực qua lỗ trocar 10 
mm. Sau khi cầm máu kỹ, bệnh nhân được đặt 2 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 24
dẫn lưu ngực trước khi đóng các vết mổ. 
Hình 2.4 Tư thế bệnh nhân Hình 2.5 Các đường mổ Hình 2.6 U dumbbell 
3.1.3. Kết quả 
Các thành phần trong cột sống và trong lồng ngực đã được loại bỏ hoàn toàn. Bệnh nhân được 
rút bỏ dẫn lưu ngực và cột sống sau 3 ngày. Kết quả giải phẫu bệnh Schwannoma lành tính. 
Hình 2.7 Hình ảnh CLVT sau mổ Hình 2.8 Hình ảnh các đường rạch da sau mổ 
IV. BÀN LUẬN 
Theo nhiều tài liệu tham khảo đã công bố, u 
dumbbell thường lành tính và hầu hết việc cắt bỏ 
khối u dumbbell có thể thực hiện theo phương 
pháp " single-stage" - đây là cách tiếp cận 1 giai 
đoạn. Tuy nhiên phương pháp này chỉ sử dụng 
với u trong lồng ngực có kích thước < 3cm. 
Những u kích thước 3-6cm sử dụng đường mở 
cung sau có cắt bỏ xương sườn, kết hợp với mổ 
nội soi lồng ngực giúp bệnh nhân giảm đau và 
hậu phẫu tốt hơn. Với u kích thước > 6cm hoặc 
không thể phẫu thuật với đường mổ có cắt xương 
sườn, phải mở rộng đường mổ ra phía sau của 
lồng ngực để cắt bỏ u. 
Tuy nhiên, việc phẫu thuật u dumbbell là 
một thách thức do đòi hỏi phải tiếp cận 3 vùng: 
cột sống, lỗ tiếp hợp và trung thất. Mặc dù một số 
phương pháp phẫu thuật như đơn nhóm hoặc đa 
nhóm được kết hợp tổ chức cắt u nhưng vẫn chưa 
có kỹ thuật xác định rõ ràng. Theo Kaiserđa phần 
khối u có thể lấy được hoàn toàn trong một đường 
rạch da tuy nhiên trong 1 số trường hợp cần thực 
hiện 2 giai đoạn, phải thay đổi tư thế do can thiệp 
thần kinh quá lâu gây kéo dài thời gian hoặc khối u 
trung thất to, không thể lấy qua đường mở cung 
sau cột sống được. Một số tác giả khác Ignacio J. 
Barrenechea (2006),Kyoung Hyup Nam (2017) 
cũng thường thay đổi tư thếđể thực hiện 2 giai 
đoạn trong 1 thì mổ. Tuy nhiên, Yawei Li và cộng 
sự (2018) có nhận xét: phẫu thuật 1 giai đoạn với 
một đường rạch có kết quả tốt hơn mổ 2 giai đoạn 
do phẫu thuật ít xâm lấn, ít biến chứng hơn. 
Nhưng tác giả cũng khuyến cáo, nên sử dụng 2 
giai đoạn đối với u có kích thước lớn, ác tính 
hoặc nghi ngờ ranh giới không rõ ràng. 
Với việc kỹ thuật cắt u trong cột sống 
không có nhiều thay đổi với việc mở cung sau cột 
sống để ấy u thì việc kỹ thuật lấy u trong lồng 
BÁO CÁO 1 TRƯỜNG HỢP PHẪU THUẬT U DUMBBELL TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP HẢI PHÒNG 
 25
ngực có thể sử dụng được cả mổ mở và mổ nội 
soi. Với việc phát triển khoa học kỹ thuật, việc 
phẫu thuật mổlồng ngực với đường mổ lớn để cắt 
u trung thất ít được thực hiện.Theo Isabelle 
Lacreuse (2007) với đường mổ mở sau bên rộng 
rãi và cắt cơ để mở rộng khoang liên sườn thì sau 
mổ bệnh nhân thường có phàn nàn về đau dây 
thần kinh hoặc hạn chế vận động vai. Do đó, mổ 
nội soi lồng ngực được áp dụng nhiều hơn trong 
việc phẫu thuật u trung thất sau. Tuy vậy, có 
nhiều quan điểm về nội soi u trung thất sau: Dựa 
theo nguyên tắc ‘cấu trúc kim tự tháp’ của 
Landreneau và Hoyos, ‘tam giác mục tiêu’ của 
Sasaki. Nhưng những phương pháp này lại chỉ 
định cho từng vị trí, kích thước u và áp đặt vị trí 
người mổ cần phảiđứng trước bệnh nhân. Các 
phương pháp này đôi lúc gây khó khăn đối với sự 
đa dạng của khối u và thói quen người mổ. Gần 
đâyAlan Sihoe (ATEP) cho rằng, phẫu thuật ít 
xâm lấn, phẫu thuật nội soi hỗ trợ (VATS) đều là 
phẫu thuật nội soi lồng ngực và đã định nghĩa 
phẫu thuật nội soi gồm: 
- Ba vết mổ: hai vết mổ có kích thước 0,3 - 
2 cm, một vết mổ 0,5 - 8 cm. 
- Thực hiện toàn bộ hoạt động dưới hướng 
dẫn của video (không nhìn qua vết mổ). 
- Nghiêm cấm sử dụng banh sườn. 
 Như vậy, theo quan điểm của Alan Sihoe, 
tất cả các khối u có kích thước lớn hơn 6 cm vẫn 
có thể mổ được bằng nội soi với đường mổ nhỏ 
dưới hướng dẫn của camera.Do đó, chúng tôi 
thực hiện phẫu thuật cắt u trong lồng ngực với 1 
đường rạch nhỏ 2cm và 2 trocar để cắt u và lấy 
toàn bộ u ra khỏi lồng ngực. 
 Với kích thước u nhỏ hơn 6cm việc lấy u 
ra khỏi lồng ngực thường dễ dàng, nhưng với 
khối u có kích thước lớn lấy bỏ khối u khó khăn 
hơn. Tuy nhiên chúng tôi vẫn lấy hoàn toàn 
khối u và đưa ra khỏi lồng ngực bằng cách cắt 
nhỏ khối u thành nhiều mảnh ở trong túi nội soi 
và đưa ra ngoài lồng ngực qua đường mở ngực 
nhỏ. Celalettin I Kocaturk (2017) cho rằng đối 
với u không thể cắt bỏ hoàn toàn cần phải áp 
dụng phương pháp đốt điện cho niêm mạc để 
tránh tái phát. 
V. KẾT LUẬN 
- U dumbbell hiếm gặp là dạng đặc biệt của 
u trung thất sau, đa phần là lành tính, dấu hiệu 
lâm sàng nghèo nàn, triệu chứng hay gặp là dấu 
hiệu chèn ép tủy. 
- Chẩn đoán chủ yếu dựa vào CLVT và 
MRI ngực 
- Điều trị chủ yếu là phẫu thuật. Việc phẫu 
thuật rất khó khăn, cần phải kết hợp đa nhóm giữa: 
Phẫu thuật cột sống và phẫu thuật lồng ngực. 
- Phẫu thuật cho kết quả tốt, giải phóng 
được chèn ép tủy, thời gian phục hồi nhanh. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Đỗ Đức Thắng, Nguyễn Hữu Ước 
(2018). Đánh giá kết quả điều trị u trung thất sau 
tại bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2012 - 2017. Y 
học thực hành. 
2. Celalettin I Kocaturk, Celal B Sezen et al 
(2017). Surgical approach to posterior 
mediastinal lesions and long-term outcomes. 
Asian Cardiovasc Thorac Ann, 25 (4), 287-291 
3.Hong-tao Rong, MD, Yue-shan Fan 
(2018). Surgical teachnique: Management of 
Dumbbell and Paraspinal Tumors of the 
Thoracic Spine Using a Single-stage 
Posterolateral Approach: Case Series. Orthop 
Surg. 10 (4). 343-349 
4. Isabelle Lacreusea, Jean Stéphane Vallab 
et al (2007). Thoracoscopic resection of 
neurogenic tumors in children. J Pediatr Surg, 42 
(10), 1725-1728. 
5. Kaiser, Larry. R and Thomas. L (2007). 
Mastery of Cardiothoracic Surgery. Williams & 
Wilkins, 2nd Edition, 114-120. 
6. Kyoung Hyup Nam.MD, Hyo Yeoung 
Ahn.MD et al (2017). One Stage Posterior 
Minimal Laminectomy and Video-Assisted 
Thoracoscopic Surgery (VATS) for Removal of 
Thoracic Dumbbell Tumor. J Korean Neurosurg 
Soc, 60 (2), 257-261 
7. Yawei Li, Bing Wang, Lei Li et al 
(2018). Posterior surgery versus combined 
laminectomy and thoracoscopic surgery for 
treatment of dumbbell-type thoracic cord tumor: 
A long-term follow-up. Clin Neurol Neurosurg, 
166, 31-35. 

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_1_truong_hop_phau_thuat_u_dumbbell_tai_benh_vien_huu.pdf