Áp dụng sinh thiết lỏng phát hiện đột biến gen EGFR trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ

Đặt vấn đề: Sự hiện diện của đột biến gen EGFR, ALK, ROS1, BRAF dự đoán được tính nhạy của các

nhóm thuốc ức chế tyrosine kinase (TKIs) ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN). Mặc dù

không có thuốc điều trị đích đối với đột biến gen KRAS, NRAS, xét nghiệm các đột biến gen này được khuyến

cáo nhằm tiên lượng lâm sàng. Để xét nghiệm đột biến gen, mẫu sinh thiết mô không phải lúc nào cũng thuận

tiện. Do đó, sinh thiết lỏng tìm DNA khối u lưu hành trong máu (Circulating Tumor DNA – ctDNA) đang dần

trở thành lựa chọn cho xác định đột biến gen

Mục tiêu: Khảo sát độ nhạy, độ đặc hiệu của sinh thiết lỏng trong phát hiện đột biến gen EGFR, ALK,

ROS1, BRAF, KRAS, NRAS bằng giải trình tự với độ sâu lớn. Đồng thời áp dụng sinh thiết lỏng để khảo sát

đặc điểm của các đột biến này ở BN UTPKTBN

pdf 6 trang phuongnguyen 200
Bạn đang xem tài liệu "Áp dụng sinh thiết lỏng phát hiện đột biến gen EGFR trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Áp dụng sinh thiết lỏng phát hiện đột biến gen EGFR trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ

Áp dụng sinh thiết lỏng phát hiện đột biến gen EGFR trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 138 
ÁP DỤNG SINH THIẾT LỎNG PHÁT HIỆN ĐỘT BIẾN GEN EGFR 
TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ 
Đặng Huỳnh Anh Thư1, Vũ Trần Thiên Quân1, Lê Xuân Trường2, Nguyễn Hoài Nghĩa3 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Sự hiện diện của đột biến gen EGFR, ALK, ROS1, BRAF dự đoán được tính nhạy của các 
nhóm thuốc ức chế tyrosine kinase (TKIs) ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN). Mặc dù 
không có thuốc điều trị đích đối với đột biến gen KRAS, NRAS, xét nghiệm các đột biến gen này được khuyến 
cáo nhằm tiên lượng lâm sàng. Để xét nghiệm đột biến gen, mẫu sinh thiết mô không phải lúc nào cũng thuận 
tiện. Do đó, sinh thiết lỏng tìm DNA khối u lưu hành trong máu (Circulating Tumor DNA – ctDNA) đang dần 
trở thành lựa chọn cho xác định đột biến gen 
Mục tiêu: Khảo sát độ nhạy, độ đặc hiệu của sinh thiết lỏng trong phát hiện đột biến gen EGFR, ALK, 
ROS1, BRAF, KRAS, NRAS bằng giải trình tự với độ sâu lớn. Đồng thời áp dụng sinh thiết lỏng để khảo sát 
đặc điểm của các đột biến này ở BN UTPKTBN 
Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả gồm 55 BN UPTKTBN. Dùng giải 
trình tự với độ sâu lớn phát hiện đột biến EGFR ở 55 mẫu mô u và 55 mẫu máu. 
Kết quả: 55 cặp mẫu mô u và mẫu máu được xét nghiệm đột biến EGFR bằng giải trình tự với độ sâu lớn. 
Sinh thiết lỏng đạt được độ nhạy 86,2% và độ đặc hiệu 94,6%. Trong 55 bệnh nhân, có 21 bệnh nhân (chiếm 
38,2%) có ít nhất một đột biến gen liên quan. Đột biến EGFR được tìm thấy ở 14 BN (chiếm 25,1%). Đột biến 
KRAS được tìm thấy ở 6 BN chiếm 10,9%. Đột biến ALK được tìm thấy ở 1 bệnh nhân (chiếm 1,8%). Đột biến 
ROS1, BRAF, NRAS không được tìm thấy. Đột biến tồn tại đồng thời giữa EGFR và KRAS xuất hiện ở 1 bệnh 
nhân (chiếm 1,8%). 
Kết luận: Sinh thiết lỏng cho thấy vai trò của nó trong xác định đột biến EGFR ở BN UTPKTBN, là sự lựa 
chọn tốt nếu như mô u không sẵn sàng. 
Từ khóa: sinh thiết lỏng, giải trình tự với độ sâu lớn, ung thư phổi không tế bào nhỏ 
ABSTRACT 
APPLICATION OF LIQUID BIOPSY IN DETECTION EGFR MUTATION 
IN NON-SMALL CELL LUNG CANCER PATIENTS 
Dang Huynh Anh Thu, Vu Tran Thien Quan, Le Xuan Truong, Nguyen Hoai Nghia 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 138-143 
Background: The presence of EGFR, ALK, ROS1, BRAF mutations predicts the sensitivity to tyrosine 
kinase inhibitors (TKIs) of non-small-cell lung carcinoma (NSCLC) patients. Although there are currently no 
targeted drugs for KRAS or NRAS mutated NSCLC, mutation testing for these genes has also been 
recommended due to their proven impact on clinical outcomes of NSCLC patients. As surgery specimens are not 
available in the majority of NSCLC, other currently available DNA sources are small biopsies and cytological 
samples, providing however limited and low-quality material. In order to address this issue, the use of surrogate 
sources of DNA, such as blood, serum and plasma samples, which often contains circulating free tumor DNA or 
1Bộ môn Sinh lý – Sinh lý bệnh Miễn dịch, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
2Trường Đại học Tân Tạo 3Trung tâm Y sinh học phân tử, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: ThS.BS. Đặng Huỳnh Anh Thư ĐT: 0334892409 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 139 
circulating tumor cells, is emerging as a new strategy for tumor genotyping. 
Objectives: To identify sensitivity and specificity of liquid biopsy in detection ALK, ROS1, BRAF, KRAS, 
NRAS mutation using ultra-deep massively parallel sequencing (MPS). Another aim of the study is to determine 
the ALK, ROS1, BRAF, KRAS, NRAS mutation status of NSCLC by using liquid biopsy. 
Method: Descriptive cross-sectional study with 55 NSCLC. EGFR mutations were assessed using tumor 
tissue-derived DNA (n=55) and circulating free (cf) DNA from pretreatment serum samples (n=55). 
Results: 55 paired plasma and tumor tissue samples were used to evaluate mutation profiles detected by 
ultra-deep MPS. Ultra-deep MPS achieved sensitivity and specificity of 86.2% and 94.6%. Among 55 patients 
successfully sequenced, 21 (38.2%) cases were found to carry at least one clinically relevant genetic alteration. 
The EGFR mutations were found in 14 liquid biopsy cases (25.1%). The KRAS mutations were found in 6 liquid 
biopsy cases (10.9%). ALK rearrangement were found in 1 cases (1.8%). ROS1, BRAF, NRAS were not found. 
In addition, 1 case (1.8%). has KRAS and EGFR mutation together. 
Conclusion: The liquid biopsy is successfully took its place in the identification of EGFR mutations of 
advanced NSCLC cases. These results merit further investigation to determine whether alternative sources of 
tumor DNA, such as cfDNA in serum, could be used for determining EGFR mutation status in future; 
currently, where a sample is available, analysis of tumor material is recommended 
Key words: liquid biopsy, ultra-deep massively parallel sequencing, NSCLC 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ung thư phổi là là loại ung thư phổ biến 
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư 
ở cả nam và nữ. Ung thư phổi không tế bào nhỏ 
(UTPKTBN) là loại ung thư phổ biến nhất chiếm 
80-85% tổng số ung thư phổi(1). 
Với giai đoạn tiến xa, điều trị chủ yếu dùng 
các phương pháp điều trị toàn thân như hóa 
chất, điều trị đích. Điều trị đích là phương pháp 
dùng thuốc để ngăn chặn sự phát triển của tế 
bào ung thư bằng cách tác động vào các phân tử 
đặc hiệu cần thiết cho quá trình sinh ung thư và 
phát triển khối u. Hiệu quả của thuốc này còn 
phụ thuộc vào tình trạng đột biến các gen mã 
hóa các protein nằm trong con đường tín hiệu tế 
bào ung thư. Các đột biến gen như EGFR, ALK, 
ROS1, KRAS, BRAF, NRAS đã được chứng minh 
có hiệu quả với điều trị UTPKTBN. Đột biến gen 
EGFR chiếm 10-20% trên bệnh nhân UTPKTBN 
ở châu Âu, châu Mỹ và 30-60% trên bệnh nhân 
thuộc chủng tộc Đông Á. Đặc biệt theo nghiên 
cứu Pioneer, bệnh nhân (BN) UTPKTBN người 
Việt Nam có tỉ lệ đột biến EGFR chiếm 64,2%(2). 
Xét nghiệm đột biến EGFR được khuyến cáo 
một cách thường quy để giúp lựa chọn phương 
pháp điều trị tối ưu. 
Hiện nay, sinh thiết lỏng có vai trò hữu ích 
trong việc xác định đột biến gen trong các 
trường hợp khối u nằm ở vị trí không thể sinh 
thiết mô và hạn chế xâm lấn do sinh thiết lặp lại 
mô u trong quá trình điều trị, hoặc mẫu mô khi 
xác định giải phẩu bệnh còn quá ít không đủ để 
thực hiện xét nghiệm đột biến gen. Ưu điểm lớn 
nhất của sinh thiết lỏng chính là dễ dàng thu 
mẫu trong quá trình theo dõi tiến trình điều trị 
và có vai trò phát hiện những đột biến mới do 
kết quả của việc kháng thuốc(3). Sinh thiết lỏng sẽ 
phân tích DNA khối u lưu hành trong máu 
(Circulating Tumor DNA – ctDNA). Do ctDNA 
chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số DNA tự do 
(Cell Free DNA-cfDNA) thu được, nên cần phải 
lựa chọn các phương pháp chính xác và tối ưu 
để phân tích ctDNA. Kỹ thuật giải trình tự thế hệ 
mới (NGS: Next- Generation Sequencing) thực 
hiện giải trình tự hàng triệu phân tử DNA đồng 
thời trên phiến kính với chi phí rất thấp so với 
phương pháp giải trình tự truyền thống. 
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm 
đánh giá khả năng áp dụng sinh thiết lỏng trong 
điều trị UTPKTBN bằng cách so sánh kiểu biến 
đổi di truyền giữa mẫu sinh thiết lỏng và mẫu 
sinh thiết mô của gene EGFR. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 140 
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu (NC) trên 55 
bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn cuối (IIIB-IV) 
điều trị tại bệnh viện Lao và bệnh phổi Phạm 
Ngọc Thạch, từ 09/2017 đến 9/2019. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Được chẩn đoán xác định UTPKTBN giai 
đoạn IIIB-IV (theo tiêu chuẩn của AJCC VII(4)). 
Chưa qua điều trị (phẫu thuật, hóa trị, xạ trị). 
Có đầy đủ thông tin về hành chính, tiền căn, 
giai đoạn bệnh UTP, kết quả giải phẫu bệnh. 
Đồng ý tham gia nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Đã qua điều trị (phẫu thuật, hóa trị, xạ trị) 
Không đồng ý tham gia nghiên cứu 
Phuơng pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang, mô tả. 
Các bước tiến hành 
Mẫu sử dụng trong nghiên cứu là mẫu máu 
ngoại vi 10ml và mẫu mô FFPE. 
Xử lý mẫu 
Mẫu sinh thiết lỏng: mẫu máu được trữ 
trong ống EDTA Vacutainer (Becton Dickinson) 
và được giữ mát tại 4°C. Mẫu máu được ly tâm 2 
đợt để tách huyết tương. Mẫu huyết tương sẽ 
được kiểm tra hiện tượng tiêu máu sau khi tách 
và được trữ ở -80°C 
Mẫu sinh thiết mô: chọn vùng tập trung tế 
bào ung thư theo các bước: vùng mô ung thu 
được đánh dấu trên lam giải phẫu bệnh để phân 
biệt với vùng mô lành xung quanh (từ 5-10 tiêu 
bản), sau đó được cạo vào ống 1,5 ml bằng luỡi 
dao phẫu thuật vô trùng. Những trường hợp 
mẫu sinh thiết quá nhỏ, hoặc không phân biệt 
vùng mô ung thu hay mô lành thì mẫu sinh thiết 
đuợc thu nhận toàn bộ. Mẫu mô u sau khi cạo sẽ 
được trữ ở -80°C. 
Tách chiết DNA 
Tách chiết DNA từ mẫu sinh thiết lỏng: 
cfDNA được tách chiết từ 1 ml huyết tương cho 
mỗi BN NSCLC bằng bộ kít Magmax™ Cell-free 
DNA Isolation Kit (Applied Biosystem) và dung 
giải trong 30µl elution buffer. 
Tách chiết DNA từ mẫu mô u: DNA từ mô u 
được tách chiết bằng bộ kit QiaAmp DNA FFPE 
kit (Qiagen). gDNA được dung giải trong 20 µl 
elution buffer. 
Định lượng DNA sau khi tách chiết: DNA 
sau khi tách chiết được định lượng bằng bộ kit 
QuantiFluor® dsDNA System. 
Chuẩn bị thư viện 
Chuẩn bị thư viện cho mẫu cfDNA từ sinh 
thiết lỏng: cfDNA tách chiết được chuẩn bị thư 
viện bằng bộ kit Accel-NGS 2S DNA Library Kit 
và khuếch đại PCR. 
Chuẩn bị thư viện cho mẫu DNA từ mô u: 
DNA sau khi tách chiết được chuẩn bị thư viện 
bằng bộ kit NEBnext dsDNA fragmentase và 
NEBnext Multiplex Oligos Dual. Sản phẩm sau 
khi được chọn lọc sẽ được khuếch đại qua PCR 
bằng cặp mồi P5 index (chứa trình tự mã hóa 
mẫu) và P7 adapter. Sản phẩm DNA sau khi 
khuếch đại sẽ được tinh sạch bằng KAPA Pure 
Beads (KAPA biosystems). 
Làm giàu các phân mảnh DNA từ gen mục tiêu 
Sản phẩm PCR từ bước tạo thư viện sẽ được 
tiến hành lai với hỗn hợp mẫu dò có chứa gene 
và gắn biotin đặc hiệu cho các gene mục tiêu. 
Quy trình sử dụng theo bộ kit xGen Lockdown 
Reagents. Các mẫu dò được thiết kế và tổng hợp 
bởi xGen panel (IDT). 
Tối ưu quy trình giải trình tự NGS với độ sâu lớn 
Phân cắt và chọn lọc kích thước gDNA từ 
chứng dương: chúng tôi sử dụng Tru-Q1 và 
EML4-ALK Reference Standard từ hãng Horizon 
làm chứng dương. gDNA từ các chứng dương 
mang đột biến và từ mẫu không mang đột biến 
sẽ được phân cắt bằng bộ kit NEBnext dsDNA 
fragmentase. 
Pha loãng các tần suất đột biến 
DNA phân cắt có chứa đột biến và không 
chứa đột biến sẽ được trộn với nhau tại các nồng 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 141 
độ pha loãng: 5%, 2,5%, 1% để tạo nên những 
tần suất đột biến khác nhau. Hỗn hợp DNA có 
các MAF khác nhau sẽ được tiến hành giải trình 
tự trên hệ thống máy giải trình tự gene thế hệ 
mới NextSeq (Illumina) sử dụng bộ hóa chất 
NextSeq Mid Output kit (150 cycles) tại độ sâu 
tối thiểu 10.000X. Nếu kết quả giải trình tự thấp 
hơn độ sâu tối thiểu thì mẫu sẽ được lặp lại giải 
trình tự để đảm bảo độ sâu tối thiểu. 
Giải trình tự NGS 
Mẫu sinh thiết lỏng sau khi được tách chiết, 
chuẩn bị thư viện và làm giàu gene mục tiêu sẽ 
được tiến hành giải trình tự trên hệ thống máy 
giải trình tự gene thế hệ mới NextSeq (Illumina) 
sử dụng bộ hóa chất NextSeq Mid Output kit 
(150 cycles) và được giải trình tự ở độ sâu tối 
thiểu lần lượt là 10.000x và 100x. 
Phân tích kết quả giải trình tự 
Kết quả giải trình tự sẽ được phân tích bằng 
phần mềm tin-sinh học và sẽ tự động so sánh với 
trình tự chuẩn từ ngân hàng dữ liệu. 
Xử lý số liệu 
Phần mềm Excel 2010 và Stata 10.0. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 502/ĐHYD-HĐ, ngày 
21/11/2017. 
KẾT QUẢ 
Nghiên cứu của chúng tôi gồm 81 bệnh nhân 
được chẩn đoán bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn 
cuối (IIIB-IV) điều trị tại Bệnh viện Lao và bệnh 
phổi Phạm Ngọc Thạch, từ 09/2017 đến 09/2019. 
Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân 
UTPKTBN tham gia nghiên cứu 
Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng của BN tham gia NC 
Đặc điểm N = 55 (%) 
Tuổi 
Độ tuổi 39-87 
Trung bình 63,4 ± 11,2 
Giới tính 
Nam 41/55 (74,5%) 
Nữ 14/55(25,4%) 
Đặc điểm N = 55 (%) 
Tình trạng hút thuốc 
Có 43/55 (78,1%) 
Không 12/55 (21,8%) 
Giai đoạn 
IIIB 16/55 (15,9%) 
IV 39/55 (70,9%) 
Chuẩn đoán lâm sàng 
Ung thư biểu mô tế bào tuyến 50/55 (90,9%) 
Ung thư biểu mô tế bào vảy 4/55 (7,2%) 
Ung thư biểu mô tế bào lớn 1/55 (1,8%) 
Kết quả phát hiện đột biến EGFR ở mẫu sinh 
thiết lỏng và mẫu mô u 
Chúng tôi ứng dụng quy trình giải trình tự 
với độ sâu lớn cho 55 mẫu sinh thiết lỏng và 55 
mẫu mô u tương ứng của cùng một bệnh nhân 
và tiến hành phân tích sự tương đồng về kiểu 
đột biến giữa hai loại mẫu. Kết quả cho thấy sinh 
thiết lỏng đạt được độ nhạy 86,2% và độ đặc 
hiệu 94,6% so với sinh thiết mô. Trong đó, MAF 
(Mutant Allen Fraction) thấp nhất ở mẫu sinh 
thiết lỏng là 1,5% và ở mẫu sinh thiết mô là 11%. 
Kết quả phát hiện đột biến gen ở mẫu sinh 
thiết lỏng 
Trong 55 bệnh nhân, có 21 bệnh nhân (chiếm 
38,2%) có ít nhất một đột biến gen liên quan. Đột 
biến EGFR được tìm thấy ở 14 BN (chiếm 25,1%). 
Đột biến KRAS được tìm thấy ở 6 BN chiếm 
10,9%. Đột biến ALK được tìm thấy ở 1 bệnh 
nhân (chiếm 1,8%). Đột biến ROS1, BRAF, NRAS 
không được tìm thấy. Đột biến tồn tại đồng thời 
giữa EGFR và KRAS xuất hiện ở 1 bệnh nhân 
(chiếm 1,8%). 
Bảng 2: Phân bố các loại đột biến 
Loại đột biến n % 
EGFR 14 25,1 
KRAS 6 10,9 
ALK 1 1,8 
ROS1 0 0 
BRAF 0 0 
NRAS 0 0 
Không đột biến gen 34 61,8 
Tổng 21 100 
Bảng 3: Phân bố các loại đột biến EGFR 
Loại đột biến n % 
Mất đoạn ở exon 19 6 42,9 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 142 
Loại đột biến n % 
Đột biến điểm L858R ở exon 19 4 28,6 
Chèn đoạn ở exon 20 2 14,3 
Đột biến điểm H773A 1 7,1 
Đột biến điểm L768C 1 7,1 
Tổng 14 100 
Bảng 4: Phân bố các loại đột biến KRAS 
Loại đột biến n % 
Đột biến điểm G12C 3 50 
Đột biến điểm G12D 1 16,7 
Đột biến điểm G12V 1 16,7 
Đột biến điểm Q61R 1 16,7 
Tổng 6 100 
BÀN LUẬN 
Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân 
UTPKTBN tham gia nghiên cứu 
Trong 55 BN nghiên cứu thì có 41 BN nam 
(74,5%) và 14 BN nữ (25,4%), tỷ lệ nam so với nữ 
là 2,92/1. Điều này có thể giải thích là do có sự 
khác nhau về tình trạng hút thuốc lá ở nữ giới ở 
nước ta và các nước phát triển phương Tây. 
Nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy BN trẻ tuổi 
nhất là 39 và cao tuổi nhất là 87, tuổi trung bình 
là 63,4 ± 11,2. Trong số các BN, gặp những người 
hút thuốc với tỉ lệ cao (78,1%), điều này nói lên 
sự liên quan giữa hút thuốc lá với bệnh ung thư 
phổi. Trong số các BN ung thư phổi không tế 
bào nhỏ được nghiên cứu tỉ lệ ung thư biểu mô 
tuyến chiếm tỉ lệ chủ yếu (90,9%), tiếp đến là 
ung thư biểu mô vảy (7,2%), các ung thư tế bào 
lớn (1,8%). Kết quả của chúng tôi phù hợp với 
nghiên cứu lại các quốc gia khác nhau, các kết 
quả phân tích đều cho thấy ung thư biểu mô 
tuyến và ung thư biểu mô vảy là 2 dạng tổn 
thương hay gặp nhất. 
So sánh kiểu biến đổi di truyền giữa mẫu sinh 
thiết lỏng và mẫu mô u 
Khi quan sát sự tương đồng về kiểu đột biến 
ở hai loại mẫu, chúng tôi quan sát thấy độ nhạy 
trong nghiên cứu của chúng tôi đạt được 86,2% 
và độ đặc hiệu 94,6%. Kết quả này phù hợp với 
tiêu chuẩn của bộ kit sinh thiết lỏng Cobas 
(Roche) đã được FDA (Hoa Kỳ) chấp thuận và 
dữ liệu tổng hợp từ 27 nghiên cứu về sinh thiết 
lỏng trên 3.110 bệnh nhân(5). 
Một trường hợp chúng tôi chỉ phát hiện đột 
biến trên mẫu mô u, nhưng lại không quan sát 
thấy đột biến ở mẫu sinh thiết lỏng. Nguyên 
nhân có thể do tỉ lệ MAF trong mẫu sinh thiết 
lỏng thấp dưới ngưỡng LOD (limit of detection) 
của chúng tôi, do vậy, chúng tôi không thế phát 
hiện được đột biến. 
Một trường hợp phát hiện đột biến trên 
cfDNA nhưng không tìm thấy ở mẫu mô u. Các 
nghiên cứu cho thấy, khối u có nhiều dòng tế 
bào với những tập hợp đột biến khác nhau được 
phân bố ở những vị trí khác nhau trên mô u. 
Chính vì thế sinh thiết lỏng phản ánh đặc tính di 
truyền của toàn bộ khối u tốt hơn so với phương 
pháp sinh thiết mô u truyền thống. 
Kết quả đột biến gen trên sinh thiết lỏng 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ đột 
biến EGFR thống kê được là 14/55 BN (25,1%) so 
với một số báo cáo khác tại Việt Nam thì tương 
đương với nghiên cứu của của Nguyễn Ngọc 
Quang năm 2014 (30,3%, n=380)(6), thấp hơn của 
Hoàng Anh Vũ năm 2011 (42%, n=71)(7). 
Trong tổng số đột biến phát hiện được ở 
EGFR, đột biến mất đoạn exon 19 chiếm tỉ lệ 
cao nhất (42,9%); đột biến L858R chiếm tỉ lệ 
cao thứ hai (28,6%), chèn đoạn exon 20 chiếm 
14,3%, các đột biến H773A, L768C chiếm tỉ lệ 
thấp nhất (7,1%). 
Đột biến gen EGFR được chia thành 2 nhóm: 
liên quan đến tính nhạy thuốc và kháng thuốc 
TKI. Những đột biến thường gặp nhất gồm mất 
đoạn trên exon 19 và L858R trên exon 21 đều liên 
quan đến sự đáp ứng tốt 7với TKI. Các đột biến 
điểm khác chiếm tỷ lệ khá thấp. Đột biến liên 
quan đến kháng thuốc như thêm đoạn trên exon 
20, đột biến T790M. Trong nghiên cứu của chúng 
tôi, đa số các đột biến cũng được phát hiện trên 
exon 19 (mất đoạn) và exon 21 (L858R). 
Đối với đột biến phát hiện ở gen KRAS, đột 
biến G12C chiếm tỉ lệ cao nhất (50%), đột biến 
G12V, G12D, Q61R chiếm tỉ lệ bằng nhau. 
Bên cạnh đó, trong tất cả các trường hợp, 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 143 
chúng tôi không quan sát thấy đột biến xảy ra ở 
gene NRAS, BRAF và ROS1. Nguyên nhân có 
thể do đột biến xảy ra ở gene NRAS, BRAF và 
ROS1 chiếm tỉ lệ rất thấp ở bệnh nhân NSCLC, 
lần lượt là 1%, 2-5%, 2%. Đối với đột biến ALK, 
chúng tôi phát hiện ở một trường hợp, 1,8% (cả 
mô u và sinh thiết lỏng). Điều này cũng tương 
quan với các nghiên cứu trước đó, đột biến ALK 
ở bệnh nhân NSCLC chỉ chiếm 4-6% trong tổng 
số trường hợp mắc UTPKTBN. 
KẾT LUẬN 
Qua nghiên cứu 55 BN UTPKTBN thực hiện 
xét nghiệm đột biến EGFR cho thấy: 
Dựa trên tổng số 55 mẫu có cả mô u và sinh 
thiết lỏng, chúng tôi xác định được độ nhạy là 
86,2% và độ đặc hiệu 94,6% cho quy trình giải 
trình tự sinh thiết lỏng với độ sâu lớn. Trong đó, 
MAF thấp nhất ở mẫu sinh thiết lỏng là 1,5% và 
ở mẫu sinh thiết mô là 11%. Như vậy, chúng tôi 
nhận thấy rằng kiểu đột biến giữa hai cách thu 
nhận mẫu có mức độ tương đồng cao. Nên việc 
áp dụng sinh thiết lỏng vào xét nghiệm đột biến 
EGFR cho bệnh nhân sẽ mang lại nhiều lợi ích. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ đột biến 
gen EGFR thống kê được là 25,1%. Đột biến 
KRAS chiếm 10,9%. Đột biến ALK chiếm 1,8%. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Ferlay J, Shin HR, Bray F, Forman D, et al (2010). Estimates of 
worldwide burden of cancer in 2008: GLOBOCAN 2008. Int J 
Cancer, 127(12):2893-2917. 
2. Shi Y, Au JS, Thongprasert S, Srinivasan S, et al (2014). A 
prospective, molecular epidemiology study of EGFR 
mutations in Asian patients with advanced non-small-cell lung 
cancer of adenocarcinoma histology (PIONEER). J Thorac 
Oncol, 9(2):154-162. 
3. Silvia CF, Eloisa JL, Alejandro HP, Carlos C (2016). Circulating 
tumor cells versus circulating tumor DNA in lung cancer-
which one will win? Transl Lung Cancer Res, 5(5):466-482. 
4. Edge SB, Compton CC (2010). The American Joint Committee 
on Cancer: the 7th edition of the AJCC cancer staging manual 
and the future of TNM. Ann Surg Oncol, 17(6):1471-1474. 
5. Thompson JC, Yee SS, Troxel AB, Savitch SL, et al (2016). 
Detection of Therapeutically Targetable Driver and Resistance 
Mutations in Lung Cancer Patients by Next-Generation 
Sequencing of Cell-Free Circulating Tumor DNA. Clin Cancer 
Res, 22 (23):5772-5782. 
6. Nguyễn Ngọc Quang, Vương Diệu Linh, Lương Viết Hưng, 
Nguyễn Phi Hùng (2014). Nghiên cứu tần suất và một số yếu 
tố liên quan đến đột biến gen EGFR tại exon 19 và exon 21 
trong carcinoma tuyến của phổi. Ung thư học Việt Nam, 4:96-
101. 
7. Hoàng Anh Vũ, Cao Văn Động, Ngô Thị Tuyết Hạnh, Đặng 
Hoàng Minh, Phan Thị Xinh và Hứa Thị Ngọc Hà (2011). Đột 
biến gen EGFR và KRAS trên bệnh nhân ung thư phổi không 
phải tế bào nhỏ. Y học Thành phố. Hồ Chí Minh, 14(4):166-172. 
Ngày nhận bài báo: 29/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfap_dung_sinh_thiet_long_phat_hien_dot_bien_gen_egfr_tren_ben.pdf