Anti-Mullerian Hormone (AMH) và các ứng dụng

AMH trong vài năm gần đây đã trở thành một vấn đề thời sự trong lĩnh vực chăm sóc sức

khỏe sinh sản và hứa hẹn sẽ được quan tâm đến nhiều hơn trong tương lai. Mục tiêu báo cáo

này nhằm giới thiệu khái niệm về dự trữ buồng trứng, về AMH, các ứng dụng hiện tại và

tiềm năng trong tương lại của AMH. Những dữ liệu mới nhất trên y văn về các vấn đề trên

cũng được trình bày.

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Anti-Mullerian Hormone (AMH) và các ứng dụng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Anti-Mullerian Hormone (AMH) và các ứng dụng

Anti-Mullerian Hormone (AMH) và các ứng dụng
54 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
ANTI-MULLERIAN HORMONE (AMH) 
VÀ CÁC ỨNG DỤNG 
Hồ Mạnh Tường
Tóm tắt
AMH trong vài năm gần đây đã trở thành một vấn đề thời sự trong lĩnh vực chăm sóc sức 
khỏe sinh sản và hứa hẹn sẽ được quan tâm đến nhiều hơn trong tương lai. Mục tiêu báo cáo 
này nhằm giới thiệu khái niệm về dự trữ buồng trứng, về AMH, các ứng dụng hiện tại và 
tiềm năng trong tương lại của AMH. Những dữ liệu mới nhất trên y văn về các vấn đề trên 
cũng được trình bày. 
Summary: 
Anti-Mullerian Hormone (AMH) and its applications
AMH in recent years has become a topical issue in the field of reproductive health care 
and promises to be more interested in the future. The objective of this report is to introduce 
the concept of ovarian reserve, the AMH, the current applications and potential of AMH in 
future. The latest data on the literature on these issues are also presented.
CGRH, Khoa Y, Đại học Quốc gia TPHCM.
Dự trữ buồng trứng là gì?
Dự trữ buồng trứng là khái niệm mô tả 
số lượng và chất lượng các nang noãn còn 
lại ở buồng trứng. Dự trữ buồng trứng giảm 
dần theo tuổi và là nguyên nhân chính làm 
giảm chức năng sinh sản của phụ nữ. Số 
nang noãn có ở 2 buồng trứng đã được xác 
định từ rất sớm. Trong giai đoạn bào thai 
(trẻ gái), các tế bào mầm sinh dục tăng sinh 
và tạo thành các tế bào noãn nguyên thủy, 
sau đó các tế bào này được bao bọc bởi các 
tế bào sinh dưỡng để tạo thành các nang 
noãn nguyên thủy. Vào thời điểm sinh, bé 
gái có khoảng 1 triệu nang noãn ở 2 buồng 
trứng. Con số này giảm dần trong giai đoạn 
tuổi nhỏ và thiếu niên. Đến tuổi dậy thì, 
2 buồng trứng chỉ còn khoảng 300.000 – 
500.000 nang noãn. 
Trong đời sống sinh sản của phụ nữ, 
các nang noãn nguyên thủy lần lượt phát 
triển. Hiện tượng các nang noãn nguyên 
thủy chuyển sang giai đoạn phát triển 
diễn ra liên tục từ trong bào thai. Tuy 
nhiên, hầu hết đều thoái hóa sau đó. Chỉ 
đến giai đoạn dậy thì, trục nội tiết sinh 
sản hoạt động mới làm tăng tiết FSH trong 
mỗi chu kỳ kinh giúp cứu một số nang 
noãn không bị thoái hóa, tiếp tục phát 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 54-58, 2012
Hồ Mạnh Tường l 55
triển và phóng noãn. Trong mỗi chu kỳ 
kinh nguyệt hàng tháng, chỉ có một nang 
noãn phát triển đến cùng và phóng noãn. 
Hiện tượng trưởng thành noãn và phóng 
noãn chỉ diễn ra khi có đỉnh LH vào giữa 
chu kỳ kinh. Quá trình phát triển, thoái 
hóa và chọn lọc các nang noãn liên tục 
diễn ra trong tuổi sinh sản, số lượng nang 
noãn nguyên thủy ở 2 buồng trứng giảm 
dần cho đến khi không còn nang noãn ở 2 
buồng trứng, khi này người phụ nữ bước 
vào giai đoạn mãn kinh.
Các nang noãn nguyên thủy được sinh 
ra từ giai đoạn bào thai, sau đó không 
tăng thêm nữa và chỉ giảm dần theo tuổi. 
Do đó, tuổi của các nang noãn cũng gần 
như tương ứng với tuổi của người phụ nữ. 
Ngoài việc giảm số lượng, tỉ lệ bất thường 
của noãn cũng tăng dần theo tuổi. Từ sau 
30 tuổi, số nang noãn có xu hướng giảm 
nhanh hơn và tỉ lệ bất thường noãn cũng 
tăng nhanh. Đến khoảng sau 35 tuổi, tốc 
độ suy giảm này càng tăng nhanh hơn. 
Điều này dẫn đến khả năng sinh sản của 
người phụ nữ suy giảm nhiều: khả năng 
có thai giảm, đồng thời tỉ lệ sẩy thai, biến 
chứng trong thai kỳ tăng lên, tỉ lệ bất 
thường của trẻ cũng tăng.
Khả năng sinh sản ở người bắt đầu giảm 
khoảng 13 năm trước khi thật sự mãn kinh. 
Nghĩa là, khoảng 1 phần 10 phụ nữ có khả 
năng sinh sản bắt đầu giảm rõ rệt vài năm 
sau khi 30 tuổi. Trong sự phát triển của xã 
hội hiện đại, người phụ nữ ngày càng có xu 
hướng bắt đầu mong có và có con ở tuổi lớn 
hơn và khoảng cách giữa cách lần sinh dài 
hơn. Điều này dẫn đến việc ngày càng có 
nhiều phụ nữ mong muốn có con ở độ tuổi 
mà dự trữ buồng trứng đã suy giảm nhiều. 
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, dự trữ 
buồng trứng của mỗi người ở mỗi thời điểm 
là khác nhau. Do đó, việc xác định dự trữ 
buồng trứng có vai trò rất quan trọng để 
đánh giá, tiên lượng chức năng sinh sản của 
người phụ nữ.
Anti-Mullerian Hormone là gì?
Trong bào thai bé trai, AMH được tiết ra 
bởi tế bào Sertolie của tinh hoàn thai nhi. 
AMH có tác dụng làm thoái hóa các ống 
Muller, góp phần hình thành cơ quan sinh 
dục nam. Ở bé gái, AMH được tiết ra từ các 
tế bào hạt của các nang noãn tiền hốc và nang 
noãn có hốc nhỏ, ở buồng trứng, bắt đầu từ 
lúc thai 36 tuần tuổi và sau sinh. Nang noãn 
nguyên thủy, các nang noãn phát triển sau 
đó thoái hóa và các nang noãn lớn (> 4-6 mm) 
không tiết AMH. Như vậy, 2 giai đoạn quan 
trọng nhất của sự phát triển nang noãn là 
(i) từ nang noãn nguyên thủy chuyển sang 
nang noãn phát triển; (ii) từ nang noãn phát 
triển chuyển sang lớn và phụ thuộc nhiều 
vào FSH, đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự chế 
tiết AMH. Ngược lại, chính nồng độ AMH 
cũng tác động ngược lại để điều hòa 2 quá 
trình quan trọng này.
Do đó, AMH là một chất đánh dấu 
“động” rất tiềm năng thể hiện tình hình 
phát triển nang noãn của buồng trứng, hay 
nói cách khác là chức năng sinh sản của 
buồng trứng. Các nghiên cứu cơ bản cho 
thấy xét nghiệm AMH nhiều lần theo thời 
gian có thể giúp đánh giá dự trữ còn lại của 
buồng trứng (số noãn còn ở buồng trứng) và 
diễn tiến của hiện tượng lão hóa của buồng 
trứng. Từ đó, xét nghiệm này có thể dùng để 
chẩn đoán khả năng sinh sản và tiên lượng 
thời gian cần can thiệp điều trị để có con.
Các ứng dụng của AMH
AMH để đánh giá dự trữ buồng trứng 
trong chẩn đoán và điều trị hiếm muộn
Cho đến nay rất nhiều nghiên cứu 
khẳng định vai trò của AMH trong đánh 
giá dự trữ buồng trứng. Xét nghiệm định 
lượng AMH huyết thanh cho kết quả ổn 
định trong chu kỳ kinh nguyệt phụ nữ, do 
đó có nhiều ưu điểm so với các xét nghiệm 
đánh giá dự trữ buồng trứng hiện nay. 
AMH hiện nay được áp dụng chủ yếu ở các 
trung tâm điều trị vô sinh và là xét nghiệm 
56 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
thường qui trên bệnh nhân hiếm muộn ở 
các nước trên thế giới.
AMH có thể giúp tiên lượng khả năng 
đáp ứng với kích thích buồng trứng. Khả 
năng tiên lượng của AMH rất tốt đối với 
các trường hợp đáp ứng kém hoặc đáp ứng 
quá mức với kích thích buồng trứng. Từ 
đó, giúp bác sĩ chọn phác đồ và liều phù 
hợp cho kích thích buồng trứng. Giá trị 
tiên lượng đáp ứng buồng trứng của AMH 
tương đương với phương pháp đếm nang 
noãn đầu chu kỳ (AFC). Tuy nhiên, AFC 
bắt buộc phải thực hiện đầu chu kỳ và kết 
quả khá chủ quan do phụ thuộc nhiều vào 
người siêu âm, cũng như kỹ thuật và thiết 
bị sử dụng, nên kết quả không ổn định.
Ngoài ra, AMH còn rất hữu ích trong việc 
tư vấn cho bệnh nhân về dự trữ buồng trứng, 
khả năng thành công của chu kỳ điều trị và 
chọn lựa các biện pháp điều trị thích hợp. 
AMH có thể tiên lượng khá chính xác 
đáp ứng buồng trứng (số lượng nang 
noãn), nhưng không chính xác lắm trong 
tiên lượng khả năng có thai khi điều trị 
hiếm muộn (chất lượng nang noãn và các 
yếu tố khác). Tuy nhiên, nếu AMH quá 
thấp, thì bệnh nhân có rất ít khả năng có 
thai với trứng của mình.
AMH để tiên lượng khả năng sinh sản 
trong tương lai
Một số nghiên cứu cho thấy AMH 
có mối liên quan đến khả năng sinh sản. 
AMH giảm dần theo thời gian với tốc độ 
khác nhau ở mỗi người. Do đó, xét nghiệm 
AMH và sau đó thử lại nhiều lần theo thời 
gian có thể giúp tiên lượng khả năng có 
thai còn lại và tốc độ lão hóa của buồng 
trứng. Từ đó, có thể tư vấn cho phụ nữ thời 
điểm thích hợp để có thai tự nhiên hoặc cần 
can thiệp điều trị. 
Tuy nhiên, hiện nay người ta chưa xác 
định được ngưỡng cảnh báo của AMH với 
khả năng sinh sản, cũng như bao lâu cần 
đánh giá lại AMH.
Tiên lượng tuổi mãn kinh
Ở phụ nữ, AMH được xem là xét nghiệm 
duy nhất có kết quả giảm dần và liên quan 
đến sự lão hóa của buồng trứng. AMH 
giảm dần cho đến khi không còn phát hiện 
bằng xét nghiệm vào tuổi mãn kinh. Ở 
những trường hợp suy buồng trứng sớm 
hay mãn kinh sớm, AMH giảm nhanh và 
mất rất sớm. Do đó, xét nghiệm AMH có 
thể giúp chẩn đoán và tiên lượng sự khởi 
phát của hiện tượng mãn kinh ở phụ nữ. 
Gần đây, một số tác giả đã báo cáo về 
việc xây dựng các biểu đồ thay đổi AMH 
theo tuổi, từ đó, tiên lượng thời điểm mãn 
kinh của phụ nữ. Các nghiên cứu này có 
thể mở ra một triển vọng ứng dụng quan 
trọng của AMH trong tương lai. Tuy nhiên, 
cần thêm nhiều nghiên cứu và dữ liệu để 
có thể khẳng định vai trò của AMH trong 
chỉ định này cũng như xây dựng các mối 
tương quan và công thức tính.
Đánh giá và tiên lượng khả năng sinh 
sản sau điều trị ung thư
Một số nghiên cứu cho thấy AMH giảm 
sau các phác đồ hóa trị ung thư, đồng thời 
có sự khác biệt về biến đổi AMH giữa các 
phác đồ điều trị khác nhau. Một số báo cáo 
cũng cho thấy rằng AMH có thể hồi phục 
một phần sau khi kết thúc hóa trị.
Các kết quả trên mở ra khả năng ứng 
dụng của AMH trong theo dõi, đánh giá và 
bảo tồn khả năng sinh sản trong điều trị các 
bệnh ác tính.
Tiên đoán tổn thương buồng trứng sau 
phẫu thuật
AMH được xem là một xét nghiệm 
nhạy cảm với các thay đổi về số nang noãn 
ở buồng trứng hay dự trữ buồng trứng. 
Do đó, AMH có thể sử dụng như một dấu 
Hồ Mạnh Tường l 57
hiệu phát hiện sớm, đáng tin cậy và trực 
tiếp cho các tổn thương ở mô buồng trứng 
sau phẫu thuật. Chỉ định phẫu thuật trên 
buồng trứng ngày càng tăng do sự phổ 
biến rộng rãi của phẫu thuật nội soi trong 
phụ khoa. Song song đó, việc sử dụng đốt 
điện để cầm máu và thủ thuật cắt, bóc tách 
trên buồng trứng chắc chắn sẽ làm giảm số 
lượng nang noãn hiện có ở buồng trứng.
Mặc dù AMH chưa tiên lượng được 
chính xác khả năng sinh sản. AMH có tiềm 
năng đánh giá tổn thương buồng trứng 
sau thủ thuật nhằm tư vấn cho bệnh nhân 
sau phẫu thuật về khả năng sinh sản trong 
tương lai, cũng như chiến lược điều trị vô 
sinh nếu cần. Do đó, AMH có thể được 
sử dụng trước khi có chỉ định và sau khi 
phẫu thuật buồng trứng nhằm giúp bác sĩ 
có thêm thông tin và tư vấn cho bệnh nhân 
trước và sau phẫu thuật về khả năng sinh 
sản. Mặc dù nếu phát hiện AMH giảm 
nhiều sau phẫu thuật thì khả năng điều trị 
phục hồi là không có, thông tin về dự trữ 
buồng trứng bất lợi sau phẫu thuật có thể 
giúp tư vấn bệnh nhân chiến lược điều trị 
thích hợp để có thể có con. 
Gần đây, có nhiều nghiên cứu tìm hiểu 
về ảnh hưởng của phẫu thuật lên kết quả 
AMH, mối liên quan giữa qui mô phẫu 
thuật và AMH, thời điểm nên thử AMH 
sau phẫu thuật và cần thử lại bao nhiều lần 
nếu thấy AMH giảm. AMH được đề xuất 
thực hiện trước và sau phẫu thuật buồng 
trứng nhằm tư vấn cho bệnh nhân trước và 
sau phẫu thuật về khả năng sinh sản.
Kết luận
Sự ra đời của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 
đã giúp nhiều cặp vợ chồng có thể có con 
mặc dù mắc phải các bệnh lý phức tạp 
ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản. 
Tuy nhiên, sẽ hiệu quả hơn rất nhiều để 
kiểm soát vấn đề vô sinh nếu chúng ta 
có thêm những yếu tố chỉ điểm để có thể 
biết được trường hợp nào là rất khó hoặc 
không có thai bình thường được hoặc 
không điều trị được có thể tư vấn và có 
chiến lược điều trị phù hợp, nhằm đem 
lại hiệu quả điều trị tốt nhất, đồng thời 
giúp giảm tốn kém và căng thẳng không 
cần thiết cho bệnh nhân.
Với mong muốn trên, sự xuất hiện 
của xét nghiệm AMH với chức năng là 
test đánh giá dự trữ buồng trứng cho kết 
quả ổn định, đáng tin cậy có thể giúp ích 
bác sĩ và bệnh nhân rất nhiều trong chẩn 
đoán và định hướng điều trị. Ngoài ra, 
AMH còn mở ra thêm nhiều triển vọng 
ứng dụng khác liên quan đến khả năng 
sinh sản của phụ nữ. Tuy nhiên, chúng ta 
còn cần nhiều nghiên cứu và dữ liệu để 
có thể khẳng định vai trò của AMH trong 
nhiều chỉ định khác nhau.
Một số trung tâm điều trị vô sinh và Sản 
Phụ khoa ở Việt Nam đã bắt đầu nghiên 
cứu triển khai thực hiện xét nghiệm AMH 
và ứng dụng vào lâm sàng từ đầu năm 
2011. Sắp tới, sẽ tiếp tục có nhiều bệnh 
viện, trung tâm triển khai thực hiện xét 
nghiệm này. Việc cập nhật các ứng dụng 
mới AMH vào thực tế lâm sàng sẽ giúp 
bác sĩ và bệnh nhân có thêm cơ hội tiếp 
cận với xét nghiệm mới này nhằm cải 
thiện chất lượng công tác chẩn đoán, điều 
trị và tư vấn cho bệnh nhân về những vấn 
đề liên quan đến chức năng sinh sản.
Đây là một vấn đề mới, thu hút sự 
quan tâm của nhiều nhà khoa học trên 
thế giới cũng như ở Việt Nam. Các thông 
tin và kiến thức mới về AMH ngày càng 
xuất hiện nhiều trên y văn thế giới. Các 
nghiên cứu ứng dụng AMH ở Việt Nam 
cũng đã được bắt đầu trong thời gian gần 
đây. Việc nắm bắt thông tin và nghiên 
cứu các vấn đề mới của y học thế giới sẽ 
góp phần giúp chúng ta hội nhập và rút 
ngắn khoảng cách với trình độ phát triển 
của y học thế giới. 
58 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Baird DD and Steiner AZ (2012) Anti-
Mullerian Hormone: A Potential New 
Tool in Epidemiologic Studies of 
Female Fecundability Am J Epidemiol 
175(4):245–249
2. Celik HG et al. (2012) Effect of 
laparoscopic excision of endometriomas 
on ovarian reserve: serial changes in the 
serum antimullerian hormone levels 
Fertil Steril 97:1472–1478
3. Gracia CR et al (2012) Impact of cancer 
therapies on ovarian reserve Fertil Steril 
97:134–40
4. Kelsey TW et al. (2011) A Validated Model 
of Serum Anti-Mullerian Hormone 
from Conception to Menopause. PLoS 
ONE 6(7): e22024. doi:10.1371/journal.
pone.0022024Loh JS và Maheswari A 
(2011) Antin-Mullerian Hormone – is 
it a crystal ball for predicting ovarian 
ageing? Human Reproduction 26(11): 
2925-2932.
5. La Marca A et al. (2010) Anti-Mullerian 
hormone (AMH) as a predictive marker 
in assisted reproductive technology 
(ART) Human Reproduction Update 
16(2): 113–130
6. Rosen MP et al. (2012) A characterization 
of the relationship of ovarian reserve 
markers with age Fertil Steril 97: 238 –243
7. Visser JA et al. (2006) Anti-Mullerian 
hormone: a new marker for ovarian 
function. Reproduction 131: 1–9

File đính kèm:

  • pdfanti_mullerian_hormone_amh_va_cac_ung_dung.pdf