34 giá trị bảng điểm của Yuval Fouks trong tiên lượng điều trị nội khoa áp - xe phần phụ

Đặt vấn đề: Áp-xe phần phụ là một trong những biến chứng nặng nề của viêm vùng chậu, nếu không chẩn

đoán và điều trị kịp thời có thể dẫn đến nhiễm trùng lan rộng, ảnh hưởng tính mạng và khả năng sinh sản trong

tương lai. Năm 2019 tác giả Yuval Fouks đã xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến thất bại điều trị kháng

sinh áp-xe phần phụ đồng thời đưa ra bảng điểm nguy cơ để tiên lượng điều trị.

Mục tiêu: Đánh giá tính giá trị bảng điểm của Yuval Fouks trong tiên lượng điều trị nội khoa áp-xe phần

phụ.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu được thực hiện trong khoảng thời

gian từ ngày 01/10/2018 đến ngày 31/03/2020. Lấy mẫu toàn bộ với tất cả các bệnh nhân có chẩn đoán là áp-xe

phần phụ thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu đều được đưa vào nghiên cứu, với mã ICD-10 là “N70” tại bệnh viện Từ

Dũ – Thành phố Hồ Chí Minh

pdf 9 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "34 giá trị bảng điểm của Yuval Fouks trong tiên lượng điều trị nội khoa áp - xe phần phụ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: 34 giá trị bảng điểm của Yuval Fouks trong tiên lượng điều trị nội khoa áp - xe phần phụ

34 giá trị bảng điểm của Yuval Fouks trong tiên lượng điều trị nội khoa áp - xe phần phụ
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 188 
34 GIÁ TRỊ BẢNG ĐIỂM CỦA YUVAL FOUKS 
TRONG TIÊN LƯỢNG ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA ÁP – XE PHẦN PHỤ 
Trịnh Minh Thiện1, Bùi Chí Thương1, Nguyễn Xuân Trang2, Phạm Mỹ Hoàng Vân2, Hà Thị Loan1, 
Trần Ngọc Nguyên1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Áp-xe phần phụ là một trong những biến chứng nặng nề của viêm vùng chậu, nếu không chẩn 
đoán và điều trị kịp thời có thể dẫn đến nhiễm trùng lan rộng, ảnh hưởng tính mạng và khả năng sinh sản trong 
tương lai. Năm 2019 tác giả Yuval Fouks đã xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến thất bại điều trị kháng 
sinh áp-xe phần phụ đồng thời đưa ra bảng điểm nguy cơ để tiên lượng điều trị. 
Mục tiêu: Đánh giá tính giá trị bảng điểm của Yuval Fouks trong tiên lượng điều trị nội khoa áp-xe phần 
phụ. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu được thực hiện trong khoảng thời 
gian từ ngày 01/10/2018 đến ngày 31/03/2020. Lấy mẫu toàn bộ với tất cả các bệnh nhân có chẩn đoán là áp-xe 
phần phụ thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu đều được đưa vào nghiên cứu, với mã ICD-10 là “N70” tại bệnh viện Từ 
Dũ – Thành phố Hồ Chí Minh. 
Kết quả: Trong thời gian 18 tháng, với 511 bệnh nhân áp-xe phần phụ có kết quả: giá trị bảng điểm của 
Yuval Fouks trong tiên lượng điều trị nội khoa áp-xe phần phụ ở mức độ khá, tỉ lệ điều trị nội khoa thất bại áp-xe 
phần phụ là 27,6%. Các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến điều trị thất bại nội khoa áp-xe phần phụ bao gồm: tuổi, 
tiền căn bệnh lý nội khoa, số lần sinh, sốt lúc nhập viện, điều trị kháng sinh trước nhập viện, khối sờ chạm vùng 
chậu qua khám trong, lắc cổ tử cung đau, đường kính khối áp-xe qua siêu âm, bach cầu lúc nhập viện, CRP lúc 
nhập viện. 
Kết luận: Bảng điểm của Yuval Fouks trong tiên lượng điều trị nội khoa áp-xe phần phụ cho giá trị ở mức 
độ khá khi áp dụng tại Việt Nam có thể áp dụng khi chưa có mô hình nào khác tốt hơn do đó nên cần xây dựng mô 
hình tiên lượng dành riêng cho dân số. 
Từ khóa: áp-xe phần phụ, tiên lượng điều trị 
ABSTRACT 
THE VALUE OF YUVAL FOUKS’S SIMPLE RISK SCORE IN PREDICTING THE OUTCOMES OF 
TUBO-OVARIAN ABSCESS 
Trinh Minh Thien, Bui Chi Thuong, Nguyen Xuan Trang, Pham My Hoang Van, Ha Thi Loan, 
Tran Ngoc Nguyen * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 188 - 196 
Background: Tubo-Ovarian Abscess (TOA) is among serious complications of (Pelvic Inflammatory 
Disease (PID). Unless being well diagnosed and treated, it could spread the infection which is fatal and affects the 
future fertility. In 2019, Yuval Fouks, after determining the risk factors relating to failures of TOA treatment 
using antimicrobial drugs, created a Simple risk score to predict the treatment outcomes. 
Objectives: To evaluate the value of Yuval Fouks risk score in predicting the outcomes of Tubo-Ovarian 
Abscess after treatment with antibiotic therapy. 
Method: This retrospective cohort study was conducted from 01/10/2018 to 31/03/2020. The participants, 
1Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Bệnh viện Từ Dũ 
Tác giả liên lạc: BS. Trịnh Minh Thiện ĐT: 0949080801 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 189 
who suit the inclusion criteria as follows: diagnosed as TOA at Tu Du Hospital - HCMC with the ICD-10 code of 
"N70", were all concluded. 
Results: During the study period of 18 months, 511 patients diagnosed as TOA were included. The Yuval 
Fouks’s Simple risk score's value in predicting the outcomes of Tubo-Ovarian Abscess after treatment with 
antibiotic therapy in Viet Nam was evaluated as fair. The failure rates of treating TOA with antibiotic therapy 
were 27.6%. The factors relating to these failures were considered as follow: age, internal medicine diseases, 
parity, having fever when admitted to the hospital, being treated with antimicrobial therapy before hospitalization, 
a palpated mass when performing pelvic examination, cervical motion tenderness, the abscess's diameter 
measured by ultrasound, participants' white blood counts and CRP when admitted to the hospital. 
Conclusion: The Yuval Fouks’s Simple risk score's value in predicting the outcomes of Tubo-Ovarian 
Abscess after treatment with antibiotic therapy in Viet Nam was evaluated as fair. It can possibly be used until a 
new and high-value predicting model designed for this specific population is created. 
Keywords: tubo-ovarian abscess, predict the treatment 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Áp-xe phần phụ là một trong những biến 
chứng nặng nề của viêm vùng chậu nếu không 
chẩn đoán và điều trị kịp thời có thể dẫn đến 
nhiễm trùng lan rộng, ảnh hưởng tính mạng và 
khả năng sinh sản trong tương lai. 
Tại Việt Nam, chưa ghi nhận một con số cụ 
thể nào về tỉ mắc bệnh áp-xe phần phụ trong 
dân số chung. Bệnh viện Từ Dũ là bệnh viện 
hàng đầu trong lĩnh vực Sản phụ khoa ở khu 
vực phía Nam, về bệnh áp-xe phần phụ số lượng 
bệnh tăng đáng kể từ 294 trường hợp trong năm 
2015 lên 438 trường hợp năm 2019(1). 
Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới từ 
những năm gần đây mô tả về các đặc điểm về 
những yếu tố nguy cơ bao gồm cả lâm sàng 
cũng như cận lâm sàng liên quan đến kết cục 
điều trị nội như của Akkurt MO(2), Farid H(3), 
Greenstein Y(4), Gungorduk K(5) hay tại Việt Nam 
có Trần Duy Anh(6). Tuy nhiên, chưa có một 
nghiên cứu nào xây dựng mô hình tiên lượng 
điều trị áp-xe phần phụ cho đến năm 2019 tác 
giả Fouks Y sau khi xác định các yếu tố nguy cơ 
liên quan đến thất bại điều trị kháng sinh áp-xe 
phần phụ đã đưa ra bảng điểm nguy cơ để tiên 
lượng điều trị(7) (Bảng 1). 
Mục tiêu 
Xác định tỉ lệ điều trị nội khoa thất bại áp-xe 
phần phụ. 
Khảo sát các yếu tố liên quan đến điều trị nội 
khoa thất bại ở bệnh nhân áp-xe phần phụ. 
Xác định giá trị bảng điểm của Fouks Y trong 
tiên lượng điều trị nội khoa áp-xe phần phụ. 
Bảng 1: Bảng điểm nguy cơ tiên lượng điều trị áp-xe 
phần phụ của Yuval Fouks(7) 
Yếu tố nguy cơ Điểm số 
Tuổi >35 1 
Kích thước khối áp –xe /siêu âm ≥70mm 2 
Áp-xe 2 bên 1 
Bạch cầu >16000/mm
3
 1 
Nhóm nguy cơ Tổng điểm Nguy cơ thất bại 
A 0 20% 
B 1-2 45% 
C 3-4 78% 
D 5 90% 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Phụ nữ được chẩn đoán áp-xe phần phụ 
được điều trị tại khoa Phụ bệnh viện Từ Dũ 
trong thời gian từ ngày 01/10/2018 đến ngày 
31/03/2020. 
Tiêu chuẩn nhận vào 
Bệnh nhân (BN) được chẩn đoán là áp-xe 
phần phụ. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Bệnh nhân không phải người Việt Nam. 
Bệnh nhân có chẩn đoán xác định cuối cùng 
không phải là áp-xe phần phụ. 
Bệnh nhân trốn viện trong quá trình điều trị. 
Bệnh nhân tâm thần hoặc có vấn đề trong 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 190 
giao tiếp. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu. 
Cỡ mẫu nghiên cứu 
Công thức tính đảm bảo cỡ mẫu: 
Với Z α/2 =1,96; e = 0,05. 
Nghiên cứu của tác giả Trần Duy Anh tại 
bệnh viện Từ Dũ(6) cho tỉ lệ điều trị nội khoa thất 
bại là 24,6% nên p=0,246. 
Vậy N = 285 trường hợp (TH). 
Phương pháp thực hiện 
Qua dữ liệu trên hệ thống lưu trữ của bệnh 
viện Từ Dũ, nghiên cứu viên chọn ra những hồ 
sơ có chẩn đoán là áp-xe phần phụ với mã 
ICD-10 là “N70”. 
Thông qua những hồ sơ được chọn, có được 
họ tên bệnh nhân, số nhập viện. 
Tìm hồ sơ bệnh án của bệnh nhân tại Kho 
lưu trữ của bệnh viện Từ Dũ với số lưu trữ 
tương ứng. 
Lọc bệnh án có đủ thông tin thỏa tiêu chí 
nhận vào và loại trừ. 
Qua hồ sơ bệnh án, nghiên cứu viên thu thập 
các thông tin cần thiết về dịch tễ, tiền căn sản 
phụ khoa, các triệu chứng lâm sàng, cận lâm 
sàng, chẩn đoán xác định, quá trình điều trị, kết 
quả giải phẫu bệnh, kháng sinh đồ và chuyển 
thành các biến số có thể phân tích vào bảng thu 
thập số liệu. 
Các biến số bao gồm: biến số nền, biến số 
độc lập, biến số phụ thuộc. 
Biế số nghiên cứu 
Biến số phụ thuộc: Biến nhị giá, nhận 2 giá trị 
thành công và thất bại ghi nhận qua theo dõi 
diễn tiến lâm sàng và biên bản hội chẩn trong hồ 
sơ bệnh án. 
Thành công: bệnh nhân được sử dụng phác 
đồ kháng sinh tĩnh mạch đơn thuần và không 
can thiệp gì thêm. 
Thất bại: sau khi dùng phác đồ kháng sinh 
tĩnh mạch, bệnh nhân không đáp ứng điều trị, 
cần can thiệp phẫu thuật để giải quyết khối áp-xe. 
Quản lý và phân tích số liệu 
Phân tích mô tả số liệu các biến số: 
- Đối với biến số liên tục được mô tả dưới 
dạng bằng trung bình và độ lệch chuẩn nếu tuân 
theo luật phân phối chuẩn và mô tả dưới dạng 
bằng trung vị, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất 
nếu không tuân theo luật phân phối chuẩn. 
- Đối với biến số phân nhóm được mô tả 
bằng tần số và tỉ lệ. 
Xác định độ tin cậy, độ chính xác của bảng 
điểm Yuval Fouks trong tiên lượng điều trị nội 
khoa áp-xe phần phụ: 
Theo tổng điểm nguy cơ. 
Theo các yếu tố nguy cơ. 
So sánh độ chính xác của bảng điểm theo 
tổng số điểm và theo các yếu tố nguy cơ. 
Theo từng nhóm kháng sinh được sử dụng 
trong mẫu nghiên cứu và so sánh các nhóm 
với nhau. 
- Xác định độ tin cậy với đường cong ROC, 
xác định giá trị AUC, khả năng tiên lượng, độ 
nhạy độ đặc hiệu. 
- Xác định độ chính xác dựa vào hệ số xác 
định R2 và điểm số Brier. 
Xác định tỉ lệ thất bại điều trị nội khoa áp-xe 
phần phụ. 
Xác định tỉ lệ phẫu thuật chủ động trong 
điều trị áp-xe phần phụ. 
Khảo sát mối liên quan các yếu tố nguy cơ 
đến điều trị nội khoa thất bại áp-xe phần phụ 
bằng mô hình hồi quy logistic đơn biến. 
Kết quả được trình bày bằng tỉ số odds (OR), 
khoảng tin cậy 95% và chỉ số p. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 610/ĐHYD-HĐĐĐ, 
ngày 11/11/2019. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 191 
KẾT QUẢ 
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đã thu 
thập toàn bộ số liệu trong thời gian 18 tháng tại 
bệnh viện Từ Dũ, từ tháng 10 năm 2018 đến hết 
tháng 3 năm 2020, có tổng cộng 602 bệnh nhân. 
Trích lục hồ sơ, chỉ thu thập được 511 hồ sơ bệnh 
án thỏa mãn các điều kiện thu nhận mẫu. 
Trong số đó, có 102 bệnh nhân được chỉ định 
điều trị ngoại khoa (phẫu thuật) chiếm 20,0% và 
409 bệnh nhân với 80,0% có chỉ định điều trị nội 
khoa. Các bệnh nhân đáp ứng các tiêu chuẩn lựa 
chọn điều trị nội khoa được khởi phát điều trị 
bằng phác đồ kháng sinh phối hợp, với các tiêu 
chuẩn đánh giá thất bại trong điều trị nội khoa 
áp-xe phần phụ, có 113 trường hợp tương 
đương với 27,6% không đáp ứng phải chuyển 
sang phẫu thuật hoặc chọc dò cùng đồ sau qua 
ngả âm đạo dưới hướng dẫn của siêu âm, còn lại 
có 409 bệnh nhân với 73,4% thành công với điều 
trị nội khoa. Tuy nhiên từ ngày 05/10/2019 bệnh 
viện thay đổi phác đồ lựa chọn kháng sinh ban 
đầu từ Amoxicillin/A.Clavulanic + Gentamicin + 
Metronidazol thành Cefotaxim + Metronidazole 
+ Doxycilin đồng thời theo nghiên cứu của Yuval 
Fouks sử dụng kháng sinh phối ban đầu là 
Cephalosprin thế hệ 3 + Metronidazole + 
Doxycilin. Do đó, trong thời gian 12 tháng từ 
ngày 01/10/2018 đến ngày 04/10/2019 có tỉ lệ điều 
trị nội thất bại là 27,9% và sau khi thay đổi phác 
đồ trong 6 tháng thì ghi nhận tỉ lệ đó là 27,0%, có 
giảm so với trước đó nhưng không nhiều. 
Hình 1: Mẫu nghiên cứu 
Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị nội khoa 
Bảng 2: Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị nội khoa (N=511) 
Yếu tố nguy cơ Trị số Số TH OR (KTC 95%) Trị số P 
Dịch tễ Tuổi 1 tuổi 1,08 (1,05 đến 1,10) <0,001 
Tiền căn 
Bệnh lý nội khoa 79 1,99 (1,10 đến 3,61) 0,025 
Số lần sinh 1 lần 1,48 (1,23 đến 1,79) <0,001 
Triệu chứng cơ Sốt lúc nhập viện 125 2,18 (1,33 đến 3,57) 0,002 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 192 
Yếu tố nguy cơ Trị số Số TH OR (KTC 95%) Trị số P 
năng và thực thể Điều trị kháng sinh trước nhập viện 107 2,3 (1,37 đến 3,85) 0,002 
Khối sờ chạm vùng chậu 356 2,23 (1,37 đến 3,65) <0,001 
Lắc cổ tử cung đau 468 7,1 (2,16 đến 23,28) <0,001 
Kết quả cận lâm 
sàng 
Đường kính khối áp-xe qua siêu âm 1 mm 1,05 (1,03 đến 1,07) <0,001 
Bạch cầu lúc nhập viện 10
3 
bạch cầu/mm
3 
 1,16 (1,11 đến 1,22) <0,001 
CRP lúc nhập viện 1mg/l 1,008 (1,005 đến 1,011) <0,001 
*Hồi quy Logistic đơn biến 
BÀN LUẬN 
Điều trị nội thất bại 
Tỉ lệ điều trị nội thất bại trong nghiên cứu 
của chúng tôi là 27,6%. Số liệu này tương 
đương với kết quả của các tác giả Akkurt 
MO(2), Farid H(3), Gungorduk K(5) với các số 
liệu ghi nhân được lần lượt là 24,6%, 26% và 
25,7%. Tuy nhiên, tỉ lệ này cao hơn nhiều so 
với tác giả McNeeley SG với phác đồ 3 kháng 
sinh phối hợp Ampicillin + Clindamycin + 
Gentamycin là 12,5%(8). Tuy có cùng tỉ lệ thất 
bại với những nghiên cứu gần đây nhưng phác 
đồ kháng sinh chúng tôi sử dụng bao gồm 3 
kháng sinh phối hợp so với 2 thuốc của các tác 
giả khác, đồng thời cũng với phác đồ sử dụng 
3 thuốc thì tỉ lệ của chúng tôi lại cao gấp 2 lần 
so với McNeeley SG. Điều đó có thể do tình 
trạng kháng thuốc trong dân số tại Việt Nam 
cao, kèm theo sự chậm trễ đến cơ sở y tế khám 
chữa bệnh khiến tình trạng nhiễm trùng nặng 
hơn nên phác đồ mạnh hơn là cần thiết; song, 
thời điểm McNeeley SG nghiên cứu vào năm 
1998, thời điểm đó tỉ lệ kháng thuốc thấp hơn 
nhiều so với hiện nay. Mặt khác, cùng phác đồ 
sử dụng phối hợp 3 kháng sinh, tỉ lệ thất bại 
của chúng tôi thấp hơn nhiều so với Fouks Y 
với tỉ lệ lên đến gần 50% với loại kháng sinh 
gần như nhau(7). Với cùng đặc điểm dân số là 
người châu Á, tuy nhiên trong 3 kháng sinh 
tác giả sử dụng có 1 kháng sinh được dùng 
đường uống nên có khả năng hiệu quả điều trị 
sẽ chậm hơn nghiên cứu của chúng tôi nhưng 
vẫn đánh giá hiệu quả điều trị nội sau 3 ngày 
để điều trị phẫu thuật khi có chỉ định mà 
không kéo dài thêm, trong khi đó tại bệnh viện 
Từ Dũ có thể đánh giá thêm vài ngày sau nếu 
tình trạng bệnh có cải thiện đôi chút hoặc có 
thể đổi kháng sinh phổ rộng để tránh cho bệnh 
nhân phải chịu đựng một cuộc phẫu thuật. 
Đánh giá giá trị bảng điểm của Yuval Fouks 
dựa theo tổng số điểm nguy cơ 
Hình 2: Đường cong ROC của bảng điểm Yuval 
Forks theo tổng số điểm nguy cơ 
Hình 3: Độ chính xác của bảng điểm Yuval Forks 
theo tổng số điểm nguy cơ 
Về độ tin cậy, khi đánh giá dựa trên tổng 
số điểm nguy cơ trên 409 bệnh nhân có chỉ 
định điều trị nội khoa cho giá trị AUC là 0,76 
(KTC95% từ 0,71 đến 0,80) ở mức độ khá với 
khả năng tiên lượng thật lần lượt ở các ngưỡng 
tuy nhiên ngưỡng phân định tối ưu nhất mà 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 193 
chúng tôi chọn để làm giới hạn tiên lượng khả 
năng thất bại của bảng điểm này là 2 điểm khi 
độ nhạy ở ngưỡng này là 81% (KTC 95% là từ 
74,3 đến 88,5) và độ đặc hiệu là 61% (KTC 95% 
từ 55,1 đến 65,9). Với một bảng điểm mang 
tính chất để tiên lượng thì chúng tôi đã chọn 
giá trị độ nhạy cao hơn độ đặc hiệu để làm 
giảm tỉ lệ âm tính giả để hạn chế tối đa nhất 
việc bỏ sót những TH có khả năng tiên lượng 
thất bại. 
Độ chính xác bảng điểm của Fouks Y tính 
theo tổng điểm nguy cơ cho giá trị hệ số xác định 
R2 là 0,224; chỉ số Brier là 0,169. 
Đánh giá giá trị bảng điểm của Yuval Fouks 
dựa theo các yếu tố nguy cơ 
Bảng 3: Độ chính xác của bảng điểm Yuval Fouks 
theo các yếu tố nguy cơ 
Tuổi 4 <0,0001 
R
2
: 0,284 
Brier: 0,158 
Đường kính khối áp-xe 3,3 <0,0001 
Áp-xe 2 bên 0,9 0,7988 
Số lượng bạch cầu lúc 
nhập viện 
3,5 <0,0001 
Phân tích các yếu tố nguy cơ theo bảng điểm 
của Fouks Y thì chỉ có yếu tố tuổi, đường kính 
khối áp-xe và số lượng bạch cầu lúc nhập viện là 
có mối liên quan có ý nghĩa thống kê. Riêng yếu 
tố áp-xe 2 bên có OR=0,9 là không có ý nghĩa 
thống kê với p=0,7988. 
Hình 4: Đường cong ROC của bảng điểm Yuval 
Forks theo các yếu tố nguy cơ 
Khi đánh giá độ tin cậy của bảng điểm dựa 
trên các yếu tố nguy cơ trên 409 bệnh nhân cho 
giá trị AUC=0,77 mức độ khá. Ngưỡng phân 
định tối ưu nhất là khi khả năng tiên lượng thất 
bại là 43,0 – 44,5% với độ nhạy là 62,8%, và độ 
đặc hiệu là 78,7%. 
Độ chính xác bảng điểm của Yuval Fouks 
tính theo các yếu tố nguy cơ cho giá trị hệ số xác 
định R2 là 0,284; chỉ số Brier là 0,158. Điều này 
cho thấy độ chính xác khi tính theo các yếu tố 
nguy cơ là tốt hơn so với tính theo tổng điểm. 
Điều này cũng có thể dễ dàng thấy được qua 2 
biểu đồ về độ chính xác của theo các yếu tố nguy 
cơ (Hình 4) thì các giá trị quan sát được phân bố 
gần với giá trị lý tưởng hơn so với theo tổng 
điểm (Hình 5). 
Hình 5: Độ chính xác của bảng điểm Yuval Forks 
theo các yếu tố nguy cơ 
So sánh giá trị bảng điểm của Yuval Fouks theo 
các nhóm kháng sinh điều trị 
Bảng điểm của Yuval Fouks được xây dựng 
trên phác đồ điều trị nội khoa là Cephalosprin 
thế hệ 3 + Metronidazole + Doxycilin(7). Trong 
mẫu nghiên cứu có 4 nhóm bệnh nhân được sử 
dụng với 2 nhóm kháng sinh khác nhau là: 
Nhóm 1: Amoxicillin - A.Clavulanic + 
Gentamicin + Metronidazole. 
Nhóm 2: Amoxicillin - A.Clavulanic 
/Gentamicin/Cefotaxim/Doxyclin. + Metronidazole. 
Nhóm 3: Piperacillin - Tazobactam + Amikacin. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 194 
Nhóm 4: Cefotaxim + Metronidazole + Doxycilin. 
Bảng 4: So sánh giá trị bảng điểm của Yuval Fouks theo các nhóm kháng sinh điều trị 
Kháng sinh 
Nhóm 1 
N=199 
Nhóm 2 
N=42 
Nhóm 3 
N=37 
Nhóm 4 
N=96 
Thất bại 52 (26,1%) 3 (33,3%) 22 (59,5%) 23 (24%) 
Tổng điểm 
OR (Trị số P) 2,3(< 0,0001) 1,6 (0,3037) 1,2 (0,5152) 2,4 (0,0001) 
AUC 
(KTC 95%) 
0,78 
(0,72 đến 0,85) 
0,71 
(0,46 đến 0,97) 
0,57 
(0,38 đến 0,76) 
0,77 
(0,67 đến 0,87) 
Khả năng tiên lượng > 71,5% > 16,2% > 68,3% > 73,8% 
Độ chính xác 
R
2
: 0,267 
Brier: 0,157 
R
2
: 0,06 
Brier: 0,066 
R
2
 : 0,016 
Brier: 0,238 
R
2
: 0,244 
Brier: 0,151 
Yếu tố nguy cơ 
OR1 (Trị số P) 
OR2 (Trị số P) 
OR3 (Trị số P) 
OR4 (Trị số P) 
 3,8 (0,0007) 
3,9 (0,0003) 
1,1 (0,8225) 
4,5 (0,0001) 
3648,6 (0,75) 
1 (1) 
1 (1) 
0,0005 (0,88) 
1,8 (0,47) 
2 (0,38) 
0,32 (0,11) 
1,9 (0,39) 
10,6 (0,002) 
4,8 (0,006) 
0,99 (0,99) 
4,8 (0,017) 
AUC 
(KTC 95%) 
0,81 
(0,74 đến 0,87) 
0,86 
(0,69 đến 1) 
0,71 
(0,55 đến 0,88) 
0,80 
(0,71 đến 0,89) 
Khả năng tiên lượng > 78,2% > 20% > 77,7% > 67,9% 
Độ chính xác 
R
2
: 0,333 
Brier: 0,143 
R
2
: 0,361 
Brier: 0,057 
R
2
: 0,178 
Brier: 0,211 
R
2
: 0,328 
Brier: 0,142 
 A B 
Hình 5: Đường cong ROC bảng điểm Yuval Forks theo tổng số điểm và các yếu tố nguy cơ của từng nhóm 
kháng sinh. A: Theo tổng điểm nguy cơ, B: Theo yếu tố nguy cơ 
Khi tính giá trị của bảng điểm theo tổng 
điểm nguy cơ hay các yếu tố nguy cơ ở từng 
nhóm kháng sinh chúng tôi thấy ở nhóm 2 và 
nhóm 3 có mối liên quan này không có ý nghĩa 
thống kê vì p >0,05. Và 2 nhóm còn lại là nhóm 1 
và 4 mối liên quan này đều có ý nghĩa thống kê 
với p <0,05. 
Đánh giá độ tin cậy của bảng điểm dựa trên 
tổng số điểm nguy cơ trên nhóm bệnh nhân sử 
dụng kháng sinh 1 và 4 cho giá trị AUC gần 
tương nhau là 0,78 và 0,77; đều ở mức độ khá. 
Độ chính xác bảng điểm của Yuval Fouks 
tính theo tổng điểm nguy cơ của nhóm sử 
dụng kháng sinh 1 cho giá trị hệ số xác định R2 
là 0,267; chỉ số Brier là 0,157 và tương đương 
so với nhóm sử dụng kháng sinh 4 với R2 là 
0,244 và chỉ số Brier là 0,151. 
Khi đánh giá độ tin cậy của bảng điểm dựa 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 195 
trên các yếu tố nguy cơ trên nhóm bệnh nhân sử 
dụng kháng sinh 1 và 4 cho giá trị AUC gần 
tương nhau là 0,81và 0,80; đều ở mức độ khá. 
Độ chính xác bảng điểm của Fouks Y tính 
theo các yếu tố nguy cơ của nhóm sử dụng 
kháng sinh 1 cho giá trị hệ số xác định R2 là 0,333 
và chỉ số Brier là 0,143 cũng tương đương so với 
nhóm 4 là 0,328 và 0,142. 
Từ đó có thể thấy rằng về độ tin cậy giá trị 
AUC ở 2 nhóm tương đương nhau, nếu đánh giá 
theo tổng điểm thì khả năng tiên lượng ở nhóm 
1 thấp hơn nhóm 4, nếu đánh giá theo các yếu tố 
nguy cơ thì khả năng tiên lượng của nhóm 4 lại 
cao hơn. Có sự khác biệt này có thể do số lượng 
mẫu của nhóm 4 ít hơn và chỉ bằng một nửa so 
với mẫu của nhóm 1. Tuy nhiên, về độ chính 
xác, ở cả 2 nhóm, dù tính theo tổng điểm hay 
theo các yếu tố nguy cơ thì với giá trị hệ số R2 
không chênh lệch nhau nhiều nó thể nói là 
tương đương nhưng điểm số Brier đều thấp hơn 
dù với mẫu ít hơn cho thấy rằng độ chính xác 
của bảng điểm đối với nhóm 4 sẽ cao hơn. Điều 
này cũng có thể giải thích được rằng do nhóm 4 
sử dụng dùng một nhóm kháng sinh với tác giả 
bao gồm Cephalosporin thế hệ thứ 3 + 
Metronidazole + Doxycilin. 
Hạn chế của đề tài 
Nhà nghiên cứu chỉ truy cứu hồ sơ tại bệnh 
viện hoặc các cơ quan lưu trữ để thu thập dữ 
liệu. Loại hình nghiên cứu này thực hiện nhanh, 
ít tốn kém nhưng có nhiều sai lệch trong thu 
thập thông tin, không kiểm soát được các yếu tố 
gây nhiễu, vì vậy kết quả nghiên cứu đoàn hệ 
hồi cứu thường có giá trị thấp hơn so với nghiên 
cứu đoàn hệ tiến cứu. 
Chúng tôi nghiên cứu trên những bệnh nhân 
được xác định chẩn đoán áp-xe phần phụ bằng 
yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh 
đối với những bệnh nhân điều trị nội khoa thành 
công, chỉ có những trường hợp được phẫu thuật 
chúng tôi mới có bằng chứng cuối cùng để chẩn 
đoán xác định chắc chắc tình trạng áp-xe phần 
phụ. Vì vậy chẩn đoán phụ thuộc nhiều vài kinh 
nghiệm của của người khám và kỹ năng của bác 
sĩ siêu âm. 
Vấn đề kháng sinh sử dụng trong điều trị 
thường có các đợt thay đổi nguồn cung cấp 
kháng sinh từ các công ty dược khác nhau, tuy 
liều lượng hoạt chất kháng sinh trong các thuốc 
là như nhau nhưng sự khác biệt trong thành 
phần chất phụ trợ lại có thể ảnh hưởng đến khả 
năng hấp thu của thuốc vì vậy đây là một hạn 
chế khách quan không thể can thiệp được. 
Những điểm mới và ứng dụng của đề tài 
Tại Việt Nam có rất ít các nghiên cứu về áp-
xe phần phụ, đã có vài nghiên cứu khảo sát 
những yếu tố liên quan đến điều trị nội khoa 
hay phẫu thuật áp-xe phần phụ. Tuy nhiên hiện 
vẫn chưa có một nghiên cứu nào về mô hình tiên 
lượng áp-xe phần phụ. 
Năm 2019, tác giả Fouks Y đã đưa ra bảng 
điểm nguy cơ để tiên lượng điều trị nội khoa áp-
xe phần phụ(4). Nhận thấy vấn đề đó thật cần 
thiết cho các nhà lâm sàng có thể quyết định khi 
nào nên bắt đầu điều trị kháng sinh và khả năng 
thất bại với điều trị kháng sinh có thể là bao 
nhiêu phần trăm để chuyển hướng sang phẫu 
thuật, cân nhắc giữa lợi ích bảo tồn khả năng 
sinh sản cho người bệnh với nguy cơ những biên 
chứng nặng nề của khối áp-xe như vỡ hay nhiễm 
trùng huyết. Đồng thời đó cũng là công cụ để 
các nhà lâm sàng có thể tư vấn cho bệnh nhân về 
tình trạng bệnh với những vấn đề có thể xảy ra 
trong thời gian điều trị. Bảng điểm của Yuval 
Fouks trong tiên lượng điều trị nội khoa áp-xe 
phần phụ cho giá trị ở mức độ khá khi áp dụng 
tại Việt Nam có thể áp dụng khi chưa có mô 
hình nào khác tốt hơn do đó nên cần xây dựng 
mô hình tiên lượng dành riêng cho dân số. 
KẾT LUẬN 
1. Giá trị bảng điểm của Yuval Fouks trong 
tiên lượng điều trị nội khoa áp-xe phần phụ ở 
mức độ khá. Giá trị của bảng điểm khi tính theo 
các yếu tố nguy cơ tốt hơn khi tính theo tổng 
điểm nguy cơ. Giá trị của bảng điểm khi dùng 
cho nhóm bệnh nhân sử dụng kháng sinh 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 196 
Cephalosprin thế hệ 3 + Metronidazole + 
Doxycilin cho giá trị cao hơn so với nhóm bệnh 
nhân được điểu trị với kháng sinh Amoxicillin-
A.Clavulanic + Gentamicin + Metronidazole 
nhưng cao hơn không đáng kể. 
2. Tỉ lệ điều trị nội khoa thất bại áp-xe phần 
phụ là 27,6%. 
3. Các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến 
điều trị thất bại nội khoa áp-xe phần phụ bao 
gồm: tuổi (OR: 1,08), tiền căn bệnh lý nội khoa 
(OR: 1,99), số lần sinh (OR: 1,48), sốt lúc nhập 
viện (OR: 2,18), Điều trị kháng sinh trước nhập 
viện (OR: 2,3), khối sờ chạm vùng chậu qua 
khám trong (OR: 2,23), lắc cổ tử cung đau (OR: 
7,1), đường kính khối áp-xe qua siêu âm (OR: 
1,05), bach cầu lúc nhập viện (OR: 1,16), CRP 
lúc nhập viện (OR: 1,008). 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bệnh viện Từ Dũ (2015, 2016, 2017,2018,2019 và quý I/2020). 
"Báo cáo tổng kết năm của khoa Phụ năm 2015, 2016, 
2017,2018,2019 và quý I/2020". 
2. Akkurt MO, Yalcin SE, Akkurt I, et al (2015). The evaluation of 
risk factors for failed response to conservative treatment in tubo-
ovarian abscesses. J Turk Ger Gynecol Assoc, 16(4):226-230. 
3. Farid H, Lau TC, Karmon AE, et al (2016). Clinical 
Characteristics Associated with Antibiotic Treatment Failure for 
Tuboovarian Abscesses. Infect Dis Obstet Gynecol, 2016:5120293. 
4. Greenstein Y, Shah AJ, Vragovic O, et al (2013). Tuboovarian 
abscess. Factors associated with operative intervention after 
failed antibiotic therapy. J Reprod Med, 58(3-4):101-106. 
5. Gungorduk K, Guzel E, Asicioglu Ö, et al (2014). Experience of 
tubo-ovarian abscess in western Turkey. Int J Gynaecol Obstet, 
124(1):45-50. 
6. Trần Duy Anh, Võ Minh Tuấn (2018). "Khảo sát đặc điểm 
những trường hợp áp xe phần phụ điều trị nội khoa thất bại tại 
bệnh viện Từ Dũ". Luận văn Tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú, Đại học Y 
Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 
7. Fouks Y, Cohen A, Shapira U, et al (2019). Surgical Intervention 
in Patients with Tubo-Ovarian Abscess: Clinical Predictors and 
a Simple Risk Score. J Minim Invasive Gynecol, 26(3):535-543. 
8. Bệnh viện Từ Dũ (2019). Áp xe phần phụ. In: Lê Quang Thanh, 
Phác đồ điều trị Sản phụ khoa 2019, pp.187-197. NXB Thanh 
Niên, TP. Hồ Chí Minh. 
9. Bệnh viện Từ Dũ (2019). Quyết định ban hành phác đồ điều trị 
Áp-xe phần phụ 03/10/2019. 
10. McNeeley SG, Hendrix SL, Mazzoni MM, et al (1998). Medically 
sound, cost-effective treatment for pelvic inflammatory disease 
and tuboovarian abscess. Am J Obstet Gynecol, 178(6):1272-1278. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdf34_gia_tri_bang_diem_cua_yuval_fouks_trong_tien_luong_dieu_t.pdf